Hiểu thêm về Đào Hồng Hỉ



Đào Hoa có nghĩa là hoa Đào, một loại hoa có màu sắc rực rỡ
Hồng Loan
Hồng có nghĩa là màu hồng, cùng có nghĩa là đẹp đẽ, nhộn nhịp, vui tươi. Loan có nghĩa là chim loan, một loài chim phượng. Trước xe vua đi có trỗ một con chim loan ngậm cái chuông, vì thế nên xa giá của vua được gọi là loan. Như vậy Hồng Loan có nghĩa là con chim loan màu hồng, đồng thời cũng là biểu tượng cho sự đẹp đẽ vui tươi, cao quí
Thiên Hỉ: Hỉ có nghĩa là mừng, những việc tốt lành đều gọi là việc hỉ

Biểu tượng
Về biểu tượng đồ dùng thì Hồng Loan là vải vóc, Thiên Hỉ là đèn nến
Về biểu tượng đồ ăn thì Đào Hoa là rượu, hoa quả hay nước ngọt, Hồng Loan là tiết canh
Về biểu tượng tang lễ thì Đào, Hồng, Hỉ là đèn nến, Đào Hoa còn là cái hố và Hồng Loan Quan Đới hội họp là dây thừng

Ngũ hành
Đào Hoa hành Mộc
Hồng Loan hành Thủy đới Kim (TTL) hoặc Mộc đới Thủy (VVT)
Thiên Hỉ hành Thủy (TTL) hoặc Hỏa đới Mộc (VTT)

Đắc hãm
Đào Hoa miếu địa tại Tí (VVT)
Hồng Loan miếu vượng tại cung Mộc và Thủy: Dần Mão, Tí Hợi (VVT) (chú ý VVT cho rằng Hồng Loan thuộc Mộc đới Thủy thành ra miếu vượng như trên

Đặc điểm về cách an sao
Đào Hồng và Hỉ đều đứng tại cung có âm dương trái ngược với âm dương tuổi nghĩa là tuổi Dương thì Đào Hồng Hỉ đều đóng tại cung Âm và ngược lại. Như vậy thì Đào Hồng Hỉ chỉ kết hợp với hai tam hợp Dương Tử Phúc hoặc Âm Long Trực của vòng Thái Tuế, đặc biệt Đào Hoa chỉ nằm trong tam hợp Dương Tử Phúc. Đối với vòng Bác Sĩ thì các tuổi Giáp Ất, Bính Đinh, Canh Tân, Nhâm Quí thì Lộc Tồn an tại cung có cùng âm dương với âm dương tuổi nên Đào Hồng Hỉ chỉ có khả năng kết hợp với tam hợp Lực Sĩ Tấu Thư Đại Hao hoặc tam hợp Tiểu Hao Hỉ Thần Quan Phủ (chú ý chỉ có tam hợp Tiểu Hao Hỉ Thần Quan Phủ hoặc vị trí Lực Sĩ có Hỉ Thần xung chiếu mới có khả năng có bộ Song Hỉ, nghĩa là Thiên Hỉ và Hỉ Thần gặp nhau). Riêng tuổi Mậu Kỷ thì Lộc Tồn an tại cung có âm dương khác với âm dương tuổi thành ra Đào, Hồng, Hỉ sẽ kết hợp với tam hợp Lộc Tồn Bác Sĩ Tướng Quân Bệnh Phù Quốc Ấn hoặc tam hợp Long Phi Phục. Do đó bộ Phục Tướng kết hợp với Đào Hồng Hỉ chỉ có tuổi Mậu Kỷ mới có khả năng có mà thôi. Dương Nam Âm Nữ thì Thai nằm ở Tí Ngọ Mão Dậu mới có khả năng có Thai Đào đồng cung, còn Âm Nam Dương Nữ thì Thai nằm tại Thìn Tuất Sửu Mùi thành ra không có Thai Đào đồng cung, chỉ có khả năng có Thai Đào tam hợp

Đào Hoa

Đào Hoa lúc nào cũng đóng ở Tí Ngọ Mão Dậu. Nếu căn cứ vào Vòng Tràng Sinh an theo tam hợp cục của năm sinh thì Đào Hoa lúc nào cũng ở vị trí Mộc Dục (còn gọi là bại địa) của vòng Tràng Sinh này và Kiếp Sát luôn nằm tại vị trí Tuyệt (còn gọi là Tuyệt Địa) của vòng Tràng Sinh. Đào Hoa và Kiếp Sát luôn luôn tam hợp chiếu với nhau (Chú ý Hồng Loan hay Thiên Hỉ khi đồng cung với Long Đức mới có Kiếp Sát xung chiếu, còn các vị trí khác thì không gặp Kiếp Sát). Đào Hoa luôn luôn nằm trong bộ Dương Tử Phúc, nghĩa là luôn luôn có Thiên Không trong tam hợp. Đào Hoa luôn luôn có Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức thủ chiếu, và có thể có Long Đức chiếu (bộ Đào Hoa, Tam Đức, Dương Tử Phúc, Thiên Không, Kiếp Sát). Tam Đức bao gồm Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức. Chỉ có bộ Không Đào đồng cung mới có đủ Tứ Đức (bởi vì Thiên Không bao giờ cũng có đủ Tứ Đức chiếu, trong đó Long Đức xung chiếu. Chú ý Thiên Không khi đồng cung với Đào Hoa chỉ có bộ Đào Hỉ hay Đào Hồng nhưng không có Cô Quả trong khi Thiên Không đồng cung với Thiên Hỉ hay Hồng Loan đều có đủ bộ Đào Hồng Hỉ Cô Quả). Đào tại Dậu và Không Đào tại Mão mới có Phá Toái, còn lại đều không có. Đào Hoa tại Mão Dậu luôn kết hợp với Thiên Hỉ (bộ Đào Hỉ Mão Dậu), còn Đào Hoa tại Tí Ngọ luôn luôn kêt hợp với Hồng Loan (bộ Đào Hồng Tí Ngọ) và chỉ khi Đào Hoa đồng cung với Thiên Đức mới có Tam Minh (Thiên Đức khi đồng cung với Đào, Hồng hay Hỉ đều có Tam Minh). Chỉ có Tử Phù Nguyệt Đức Đào Hoa đồng cung mới có bộ Cô Quả tam hợp, còn lại khi đồng cung với Thiếu Dương hoặc Phúc Đức đều không có Cô Quả (Nguyệt Đức đồng cung với Đào, Hồng, hay Hỉ đều có Quả Tú)

Hồng Loan và Thiên Hỉ

Hồng Loan và Thiên Hỉ luôn luôn xung chiếu với nhau và chỉ có vị trí Hồng Loan hoặc Thiên Hỉ thì mới có khả năng có đủ bộ Tam Minh. Hồng Loan luôn nhị hợp với Điếu Khách, còn Thiên Hỉ luôn nhị hợp với Quan Phủ, Long Trì. Hồng Loan thì nằm trong bộ Dương Tử Phúc khi ở Dương cung hay bộ Âm Long Trực khi ở Âm cung. Khi Đào Hồng đồng cung hoặc tam hợp chiếu thì Hồng Loan thuộc bộ Dương Tử Phúc, còn nếu không thì Hồng Loan thuộc bộ Âm Long Trực
Hồng Loan khi tại Âm cung thì thuộc bộ Âm Long Trực, có Phá Toái tam hợp khi tại Tỵ Dậu Sửu và chỉ có vị trí Mão Dậu (có Thiếu Âm Hồng Loan) mới có Tam Minh. Hồng Loan tại Dương cung thì thuộc bộ Dương Tử Phúc, lúc nào cũng có Tam Minh
Thiên Hỉ thì khi ở Âm cung nằm ở bộ Dương Tử Phúc (luôn luôn có đủ bộ Tam Minh) và khi ở Dương cung nằm ở bộ Âm Long Trực (tại Tí Ngọ mới có bộ Tam Minh, còn lại chỉ có Hồng Hỉ mà thôi) và nằm khác bộ với Hồng Loan. Khi Hồng Loan gặp bộ Dương Tử Phúc thì Thiên Hỉ thuộc bộ Âm Long Trực, khi Hồng Loan thuộc bộ Âm Long Trực thì Thiên Hỉ thuộc bộ Dương Tử Phúc. Tại vị trí Tỵ Dậu Sửu Thiên Hỉ luôn luôn có Phá Toái tam hợp

Thiên Không Đào Hoa đồng cung:
Đào Hoa thuộc bộ Tam Đức, Dương Tử Phúc, Thiên Không, Kiếp Sát trong đó Thiên Không Kiêp Sát chủ ẩn tàng tai họa. Trong bộ này thì Thiếu Dương hành Hỏa chủ về trí tuệ, khôn ngoan, nhạy bén và luôn luôn đồng cung với Thiên Không theo cách an của Nam Phái. Bắc Phái hoàn toàn không có sao Thiên Không đồng cung với Thiếu Dương mà vị trí của Thiên Không chính là sao Địa Không trong Nam Phái. Khi Đào Hoa đồng cung với Thiên Không thì Mộc của Đào Hoa sẽ gia tăng tính chất nhạy bén, khôn ngoan của Thiếu Dương Hỏa đưa đến con người dễ trở nên quỉ quyệt, mưu sỉ, đạo đức giả nếu không có phúc thiện tinh đồng cung cứu giải. Trường hợp có hung sát tinh kết hợp thì Kiếp Sát sẽ phối hợp với Thiên Không để đưa ra kết quả bù trừ do hành động gian ác quỉ quyệt gây ra. Mệnh Không Đào đồng cung thì Mệnh Kim chính là cách Thiên Không Đào Hoa đúng cách (Hỏa khắc Kim), sự nghiệp sẽ bị gãy đổ do những hành động mưu sỉ gây ra và tại vị trí Mão Dậu là nơi tác họa mạnh nhất vì có thêm Phá Toái trợ lực, trong khi tại Tí Ngọ thì có phần giảm nhẹ vì có Hồng Loan (Thủy) tam hợp trong khi không gặp Phá Toái. Bộ Không Đào đồng cung không bao giờ có mặt của Cô Quả (Thổ) có tác dụng giảm thiểu tác họa của Thiên Không Kiếp Sát (Hỏa) hội họp, vì thế Mệnh Thiên Không Đào Hoa đồng cung thì phú đoán như sau:
Thiên Không hội với Đào Hoa,
Cầm, kỳ, thi, họa tài ba tuyệt vời
Cơ mưu quyền biến hơn người
Ngàn năm mệnh bạc một đời tài hoa (AB334)

Thiên Không Hồng Loan đồng cung: tại vị trí này thì Hồng Loan Thủy sẽ khắc chế Thiếu Dương, Thiên Không và Kiếp Sát Hỏa, đồng thời ba sao trên lại bị tiết khí cho Cô Quả Thổ để rồi khắc lại Hồng Loan đưa đến con người tuy sáng suốt nhưng không mưu sỉ, thường có tâm tu hành (Thiên Không, Thiếu Dương), cuộc đời dễ gặp trắc trở về tình duyên (Hồng Loan Cô Quả) nhưng nghề nghệp thường hanh thông (Đào Hoa tại Quan)

Đào Hồng đủ bộ
Đào Hồng khi ở Dương cung (nghĩa là tuổi Âm) thì hoặc đồng cung, hoặc tam hợp chiếu, còn khi ở Âm cung (nghĩa là tuổi Dương) thì xung chiếu với nhau, hoặc đưa đến cách giáp biên tại các cung Dương là Dần Thân, Thìn Tuất. Cụ thể:
Đồng cung tại Tí Ngọ (tuổi Mão, Dậu)
Tam hợp chiếu tại Dần Ngọ (tuổi Sửu), Thân Tí (tuổi Mùi), Ngọ Tuất (tuổi Tỵ ), Tí Thìn (tuổi Hợi)
Giáp biên tại cung Dần (tuổi Dần), Thân (tuổi Thân), Tuất (tuổi Thìn) và Thìn (tuổi Tuất). Như vậy chỉ có Thái Tuế Dần Thân và Tuế Phá tại Thìn Tuất mới có cách giáp Đào Hồng
Xung chiếu với nhau ở cung Âm: Mão Dậu (tuổi Tí, Ngọ)

Tam Minh Đào Hồng Hỉ: Đào Hồng khi đồng cung, hoặc xung chiếu thì sẽ có đủ bộ tam minh Đào Hồng Hỉ
Ba sao Đào Hồng Hỉ họp thành một bộ gọi là Tam Minh, chỉ dành riêng cho bộ Dương Tử Phúc và Thiếu Âm: Thiếu Dương ở Dần Thân Tỵ Hợi (Tứ Sinh), Tử Phù – Nguyệt Đức ở Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ Mộ), Phúc Đức và Thái Âm tại Tí Ngọ Mão Dậu (Tứ Chính) mới có bộ Tam Mịnh. Khi có tam minh thì có đặc điểm là Dương, Tử, Phúc và Thiếu Âm đều đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan và chỉ có Phúc Đức, Thiếu Âm mới không bị Cô Quả, còn Thiếu Dương thì bị cả bộ Cô Quả thủ chiếu, Tử Phù bị Quả Tú xung chiếu
Một số người đã thay thế Thiên Hỉ bằng Hỉ Thần và cho rằng Hỉ Thần, Đào, Hồng cũng là bộ Tam Minh nhưng không thể coi như vậy được vì Tam Minh thì phù tá cho bộ Nhật Nguyệt là do luôn có Thiếu Dương

Đào Hoa cư Quan hoặc Tài
Đào Hoa cư Quan thì Mệnh sẽ là Nguyệt Đức hoặc Phúc Đức thủ và sẽ có Kiếp Sát tại Mệnh vì Kiếp Sát tam hợp với Đào Hoa: theo chiều thuận thì Kiếp Sát, cách ba cung thì là Đào Hoa, còn nếu Đào Hoa cư Tài thì Quan sẽ có Kiếp Sát thủ

Đào Hoa gặp Song Hao
Đào Hoa gặp Song Hao chỉ có tuổi Ất Tân mới gặp và khi đó Đào Hoa tại Tí hay Ngọ. Chú ý cung Ngọ tuổi Ất thì có Triệt
Một số người cho rằng Đào Hoa gặp Song Hao thì tốn tiền vì gái nhưng điều này chưa chắc đúng, có lẽ Đào Hoa gặp Song Hao tại Tài thì mới có nghĩa như vậy

Hồng Loan và Tứ Đức
Hồng Loan khi đóng đồng cung với Thiếu Dương tại Dần Thân thì có Tứ Đức, đồng cung với Tử Phù, Phúc Đức hay Thiếu Âm thì sẽ có Tam Đức, đồng cung với Trực Phù thì có nhị đức (Nguyệt Đức, Long Đức), đồng cung với Long Đức thì chỉ có Long Đức mà thôi

Luận đoán Đào Hồng Hỉ
Cần nắm vững ý nghĩa của các sao Thiên Không, Kiếp Sát, Cô Quả, Tứ Đức, Phá Toái. Cần chú ý xem Đào Hồng Hỉ thuộc tam hợp nào của vòng Thái Tuế (tam hợp Dương Tử Phúc hoặc Âm Long Trực), có Thiên Không, Kiếp Sát (Hỏa), Cô Quả (Thổ), Phá Toái hay không, và ở vị trí thủ hay chiếu. Tam hợp Dương Tử Phúc luôn luôn có Đào Hoa, Thiên Không, Kiếp Sát, Tam Đức trong tam hợp, tam hợp Âm Long Trực chỉ có vị trí Long Đức mới gặp Thiên Không Kiếp Sát xung chiếu, còn Thiếu Âm và Trực Phù không gặp Thiên Không Kiếp Sát. Đào Hoa thì luôn luôn nằm trong tam hợp Dương Tử Phúc. Hồng Loan khi ở Dương cung thì thuộc tam hợp Dương Tử Phúc Tam Minh, khi ở Âm cung thì thuộc tam hợp Âm Long Trực có Phá Toái tam hợp khi tại Tỵ Dậu Sửu và chỉ có vị trí Thiếu Âm Hồng Loan Mão Dậu mới có Tam Minh. Thiên Hỉ khi ở Âm cung nằm ở tam hợp Dương Tử Phúc Tam Minh và khi ở Dương cung nằm ở tam hợp Âm Long Trực (Thiếu Âm Thiên Hỉ tại Tí Ngọ mới có bộ Tam Minh, còn lại chỉ có Hồng Hỉ mà thôi). Cần chú ý Thiên Không và Kiếp Sát thì ẩn tàng tai họa nhưng Thiên Không trong đồng cung với Thái Dương thì không tác họa. Thiên Không và Kiếp Sát (Hỏa) cần được Hồng Loan hay Thiên Hỉ (Thủy) đồng cung để giảm thiểu tác họa của nó. Cô Quả thì tuy làm suy yếu sự phá hoại của Thiên Không Kiếp Sát (Hỏa sinh Thổ) nhưng đồng thời làm ngang trái Hồng Loan, Thiên Hỉ (Thổ khắc Thủy). Thiên Không đồng cung với Đào Hoa sẽ gia tăng tính phá hoại của Thiên Không, gia tăng tính nhạy bén, mưu trí, trực giác cao của Thiếu Dương. Cần chú ý rằng Đào Hồng thủ Mệnh không đẹp bằng chiếu Mệnh, nhất là Hồng Đào tại Quan thì tốt nhất nhưng cần chú ý rằng Đào Hoa tại Quan thì Mệnh có sao Thiên Đức hoặc Nguyệt Đức thủ với sao Kiếp Sát. Đào Hồng thủ khi có các sao của bộ Tứ Đức thủ đồng cung thì sẽ hóa giải được dâm tính và không còn mang tính chất hoa nguyệt bừa bãi. Đào Hồng chiếu Mệnh đương nhiên không mang tính hoa nguyệt mà lại chủ sự may mắn. Tam hợp Dương Tử Phúc tối kỵ Không Kiếp xâm nhập (kế đó là Hỏa Linh hãm, sau đó mới đến Kình Đà), khi đó các sao Đức không thể hóa giải hung họa. Hóa giải tác họa của Thiên Không thì Hóa Khoa hoặc Tuần, Triệt giải được
Tam Minh Đào Hồng Hỉ hỗ trợ bộ Nhật, Nguyệt rất đắc lực, nhất là khi Nhật Nguyệt hãm địa sẽ làm gia tăng sức sáng của Nhật Nguyệt (Mệnh Thái Dương sáng sủa thì rất đoan chính thành ra Thái Dương sáng cũng giải được tính hoa nguyệt). Sự hỗ trợ này có lẽ do ảnh hưởng của Thiếu Dương (có Thiên Không đồng cung) hỗ trợ Thái Dương và Thiếu Âm (chỉ có Thiếu Âm mới có khả năng có Tam Minh, còn Long Đức và Trực Phù không có) hỗ trợ Thái Âm. Ngoài ra Đào Hồng Hỉ phù tá bộ Tử Phủ Vũ Tướng cũng mạnh mẽ, nhất là Tử Vi và Thiên Phủ là hai sao khắc chế được dâm tính của Đào Hồng biến hai sao này thành may mắn hanh thông. Đào Hồng gặp các dâm tinh như Liêm Tham nhất là hãm địa không có lợi vì hai sao này đều chỉ về tham dục, gặp Đồng Lương Tỵ Hợi, Cự Cơ Mão Dậu, Thái Âm hãm địa cũng gia tăng tính dâm
Đào Hồng là các dâm tinh nhưng nếu đồng cung với các sao chủ sự đoan chính như các sao của bộ Tứ Đức, Tử Phủ, Thái Dương sáng sủa, Thiên Hình thì lại là người duyên dáng, không lăng nhăng. Đào Hồng tối kỵ gặp Không Kiếp chủ về tình duyên trắc trở, biệt ly, khổ lụy vì tình, chết yểu, nghèo hèn hoặc công danh sự nghiệp đổ vỡ, nhất là Đào Hoa gặp Không Kiếp. Đào Hồng gặp Hỏa Linh Kình Đà cũng xấu, chủ về chiết giảm tuổi thọ. Đào Hồng gặp Tam Ám Riêu Đà Kỵ thì chủ sự hoa nguyệt bất chính, dâm đãng. Đào Hồng Hỉ không nên đồng cung với Phục Binh, Tướng Quân chủ sự bị lừa gạt trên vấn đề tình cảm, với Riêu chủ về sự dâm đãng, với Thai chủ sự thất trinh mất tiết, thụ thai. Hồng Đào cũng không nên gặp Hóa Kỵ hãm địa (Hóa Kỵ do các chính tinh hóa thành, chủ yếu do Nhật, Nguyệt, Liêm, Tham, Cự Cơ, Đồng, Vũ, Xương, Khúc trong đó ngoại trừ Thái Dương và Vũ Khúc, các sao còn lại đều có vị trí mang nghĩa dâm) nhất là Hồng Loan dễ bị miệng tiếng thị phi trên vấn đề tình cảm. Riêng Hỉ gặp Thai tại hạn thì dễ có tin mừng về việc có con, nhất là khi có Thanh Long hoặc Phi Liêm
Vài tính chất của Đào, Hồng, Hỉ
Đào Hồng
Đào Hồng chủ vui vẻ, mau mắn, đa tình, lẳng lơ hoa nguyệt
Chủ mọi sự về đàn bà con gái
Có ảnh hưởng đến vợ hoặc chồng
Đem lại nhiều sự vui mừng
Có liên quan đến việc cưới hỏi, lợi ích cho việc thi cử, cầu công danh
Làm cho Tử Phủ, Nhật Nguyệt thêm rực rỡ, tốt đẹp
Đào Hồng Hỉ gọi là bộ Tam Minh, gia tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt
Lưu hạn mà gặp Tam Minh thì thi cử, cầu công danh tài lộc, hôn nhân sẽ được đắc ý. Về già mà Hồng Hỉ ở Tứ Mộ thì chủ bệnh tật nguy kịch đến tính mạng (VVT)

Hồng Đào miếu tại Hợi Tí chủ về sự phát triển tài lộc, công danh thăng tiến (VVT)
Đào Hoa tại Tí Mão nếu đồng cung với Thiên Không (Hỏa) thì ví như cây đào bị cháy, là cách bán thiên chiết sỉ, chim bay ngang trời bị gãy cánh, nếu cư tại Mệnh, Thân, Quan, Tài thì cơ nghiệp bị đổ vỡ nhưng là người có cơ mưu trí lược (VVT)

Mệnh có Đào Hồng thủ thì:
Ngoại diện dễ thu hút người khác phái
Ăn nói lịch thiệp, dáng điệu thanh lịch, có năng khiếu ngoại giao
Tính tình vui vẻ, nhanh lẹ, mau mắn
Có duyên
Đa tình, dễ bị lôi cuốn vào chuyện tình cảm, dễ đam mê lụy vì tình nếu không đồng cung với sao của Tứ Đức hoặc có sao khắc chế như Tử Phủ, Thiên Hình, Thái Dương sáng sủa
Khéo tay, có năng khiếu học các ngành liên quan đến mỹ thuật như may cắt, trang điểm, sơn móng tay, nhất là Mệnh Hồng Loan
Không sát tinh xâm phạm thì là người hay gặp may mắn, nhất là hay gặp người khác phái giúp đỡ. Nếu gặp sát tinh thì nên cẩn thận dễ bị họa trong mối quan hệ với người khác phái

Riêng Đào Hoa thì:
Hay chú trọng đến hình thức bề ngoài, từ đó bản thân cẩn thận trên vấn đề ăn mặc, trưng diện, nhất là phái nữ mệnh Đào Hoa
Thích giao thiệp với người khác phái
Đặc điêm này sẽ mạnh khi Đào Hoa tại Mão và Ngọ, còn tại Dậu và Tí thì kém hơn nhiều

Đào Hoa khác Hồng Loan ở chỗ Đào Hoa nặng về dâm tính thể xác, mang tính lả lơi hoa nguyệt còn Hồng Loan chủ dâm tính trên lãnh vực tinh thần, lãng mạn. Đào Hoa thì thu hút người khác phái ngay, trong khi Hồng Loan thì từ từ hấp dẫn do sự có duyên. Sự kết hợp của Đào Hoa với các dâm tinh khác thì sẽ mang ý nghĩa liên quan đến sự giao hợp về xác thịt

Cần xét thêm Âm Dương sáng sủa hay mờ ám (phái Nam coi Thái Dương, Nữ coi Thái Âm) để biết thêm về khả năng sinh lý của đương sự mạnh hay yếu

Mệnh hay Thân có Đào hay Hồng tọa thủ thì có khả năng hai đời. Theo CV thì Hồng Loan có Nguyệt Đức đồng cung thì giải được cách hai đời

Đào Hồng không nên cư tại Thân Mệnh vì đặc tính dâm ô hoa nguyệt, nhất là Nữ Mệnh càng không nên có Đào Hồng cư Mệnh. Đào Hoa cư Mệnh thì xấu, trai thì mê gái, gái thì mê trai, gặp Thiên Không đồng cung càng xấu hơn vì trong trường hợp này không có sao Đức thủ đồng cung (CV)
Đào Hoa chiếu Mệnh thì mới tốt đẹp, được mọi người quí mến và không chủ về lăng nhăng, hấp dẫn người khác, người khác mê mình chứ mình không mê người (CV)
Đào Hoa cư Mão đẹp nhất, kế đến cư Ngọ, còn cư Dậu và cư Tí thì xấu, tại Tí là đào hoa phiếm thủy, chủ dâm dật (CV) nhưng có người cho rằng Đào tại Mão thì đẹp nhất, kế đến Đào tại Tí, rồi Ngọ và cuối cùng là tại Dậu
Đào Hoa cư Mão (hành sao đồng hành hành cung) thì đẹp nhất, là người rất có duyên, tuổi Tân lập gia đình sớm (CV). Tại vị trí này, Đào Hoa được coi như là hoa nở vào bình minh, tính chất của Đào Hoa thể hiện rất mạnh mẽ, rất hấp dẫn, thu hút người khác, được nhiều người biết đến như hoa đẹp được người thưởng thức ngắm xem.
Đào Hoa cư Ngọ (hành sao sinh hành cung) cũng đẹp, nhưng bớt sức hấp dẫn, ví như hoa đang ở giữa trưa nắng gay gắt thành ra dễ tàn, nhưng nếu nữ mệnh tại Ngọ có Tử Phủ thì lại là cách đào hoa phạm chủ, chủ về dâm dật, chủ thầy lấy trò, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau (CV)
Đào Hoa cư Dậu (cung Kim khắc Đào Mộc) thì xấu nhất, ví như hoa đào bị héo, bị rơi rụng, chủ trai lấy vợ thừa, hoặc thất tiết, hoặc không đứng đắn, hoặc lấy vợ trễ, về già mới có vợ, hoặc dễ bị vợ phản bội, gái lấy chồng ăn chơi (CV). Tại vị trí này sự hấp dẫn của Đào Hoa giảm thiểu nhiều, tính chất của Đào Hoa giảm thiểu
Tử Vi Tham Lang cư Dậu gặp Đào Hoa, nếu Nam Mệnh hành Kim thì là cách đào hoa phạm chủ, chỉ cách thầy lấy trò, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau, tình yêu thiếu luân thường đạo lý. Tại Nữ Mệnh thì dâm dật (CV)
Đào Hoa cư Tí (hành cung sinh hành sao) thì đàn bà lãng mạn, dễ mắc vào lưới tình, nếu có Thiên Không đồng cung thì đường chồng con không khá, dễ bị chồng bỏ hoặc bỏ chồng (Không Đào) (CV). Có người cho rằng Đào Hoa tại Tí thì tốt, chỉ thua kém tại Mão, ví như hoa Đào nở về đêm, lâu tàn, tuy rực rỡ nhưng ít người biết đến, ám chỉ các tính chất của Đào Hoa thì ngấm ngầm, ví dụ như có duyên nhưng ngầm, đa tình nhưng kín đáo
Đào Hoa xấu nhất là gặp Không Kiếp, kế đến là Hỏa Linh. Gặp Triệt thì như là hoa bị ngắt, gặp Thiên Hình thì dễ bị bề hội đồng (CV)
Đào Hoa nhập hạn trên 50 tuổi thì dễ chết hoặc bị bệnh nặng, nhưng chiếu hạn thì không đáng lo ngai, chủ yếu chỉ bị bệnh mà thôi (CV)
Đào Hoa cư tại Nô thì đàn ông mới xấu, chủ về cách lấy bậy bạ như chủ lấy tớ, thầy lấy trò, còn đối với đàn bà thì không sao (CV)

Đào Hồng cư Quan Lộc thì hợp nhất vì tránh được tính lẳng lơ hoa nguyệt của Hồng Đào tại Mệnh. Cư Quan thì hoạn lộ sẽ hanh thông may mắn, không phải cầu cạnh bôn ba dù làm nghề gì cùng vậy (VVT)

Hồng Loan miếu vượng tại Dần Mão, Hợi Tí thì chủ sự thông minh tú lệ, hòa nhã, nếu có Tử Vi trong tam hợp thì là người thanh tịnh, chủ sự cát khánh, trai lấy vợ đẹp, hiền thục, gái lấy chồng cao sang quí hiển (VVT)
Hồng Loan hãm địa thì chủ tà dâm, đa đoan (VVT)
Hồng Loan gặp Hóa Lộc Kình Đà thì phụ nữ rất giỏi về kinh doanh, nhất là kinh doanh vải vóc (Hồng Loan biểu tượng là vải vóc) rất phát đạt (VVT)
Hồng Loan gặp Địa Kiếp Cô Quả là cách chết thắt cổ vì Hồng Loan Địa Kiếp là cái dây thừng (VVT). Nếu đóng tại Phu Thê thì phải hai ba lần mới thành gia thất (VVT)

Đàn bà Mệnh Thân có Đào hay Hồng tọa thủ gặp tam ám Riêu, Đà, Kỵ hội họp thì là người không giữ được danh tiết. Nếu lại gặp Thai Binh Tướng hội họp thì sẽ bị chửa hoang hoặc hiếp (TTL)

Nữ Mệnh có Đào Thai Phục Tướng thì khó tránh chửa hoang hoặc bị hiếp (VVT)
Thai Đào gặp Tướng Quân thì là cách tiền dâm hậu thú, nhưng nếu có Nguyệt Đức đồng cung thì giải được (AH)

Thiên Hỉ
Vui vẻ, hòa nhã, chủ về hỉ sự, đem lại nhiều sự may mắn đáng mừng
Lợi ích cho việc cầu công danh, cưới hỏi, sinh nở
Họp với Hỉ Thần thành bộ Song Hỉ, chủ hỉ sự đến trùng phùng

Mệnh có Thiên Hỉ thủ thì:
Miệng cười tươi
Ăn nói vui vẻ, hòa nhã, vui tính
Ra ngoài thường gặp may mắn (Hồng Loan cư Di). Duyên từ ngoài vào vì có Hồng Loan xung chiếu (CV)
Thủ Mệnh thì là người có dung mạo tuấn mỹ, sớm lập gia đình (VVT)

Thiên Hỉ kết họp với Hỉ Thần thành bộ Song Hỉ, chủ sự may mắn dồn dập đến. Một số người cho rằng Song Hỉ tại cung Quan thì rất tốt đẹp

Các câu phú về Đào, Hồng, Hỉ
Đào, Hồng, Hỉ với phụ tinh
Đào Hoa
Mệnh Đào Hoa thủ thì mặt mày xinh đẹp, gặp Kình, Đà, Hình, Kỵ thì là người có tật:
Đào Hồng mặt mũi xinh tươi, Kỵ, Hình, Đà, Nhận là người tật thương

Mệnh giáp Đào Hồng thì tóc dài và tươi tốt:
Trong cung giáp có Hồng Đào, Tóc dài đến gót, tốt sao thuở này (B182)

Mệnh Đào Hoa thì ít khi ở với vợ, để vợ cô đơn chiếc bóng, và thường phải hai đời vợ:
Đào Hoa thủ Mệnh quả thê (7)

Đào Hoa hoặc Thiên Lương cư Dậu thì xấu vì bị hành cung (Kim) khắc hành sao (Mộc):
Kim khắc Mộc tốt nhiều cũng xấu,
Ấy Đào (Đào Hoa) Lương đất Dậu (cung Dậu) hay chi (B162)

Hồng Loan
Hồng Loan thủ Nữ Mệnh thì dễ lập gia đình hai lần, hai đời chồng:
Nữ tử Hồng Loan thủ Mệnh chủ nhị phu (8)

Mệnh có Hồng Loan tại Tí (như vậy thì là tuổi Mão) gặp thêm văn tinh thì tuổi trẻ đã đỗ đạc cao:
Hồng Loan cư Tí cũng hay, Văn tinh hội chiếu danh ghi thiếu thời
Những số chiếm Khôi Khoa tuổi trẻ, Mình gặp vào Tí vị Hồng Loan (gặp Khôi Khoa hoặc Hồng Loan cư Tí thì trẻ tuổi đã đỗ đạt cao)
Hồng Loan cư Tí, thiếu niên định chiếm khôi nguyên (1, B57)

Mệnh có Xương Tấu Hồng Khôi thì là người có nhiều mưu kế phò tá vua, rất nổi danh nhưng nếu gặp thêm Hóa Kỵ thì không nên chen vào đường danh lợi thì cuộc sống sẽ phong lưu:
Cách Xương Tấu Hồng Khôi dễ được, Chốn sân rồng dâng chước nổi danh,
Thêm sao Hóa Kỵ chẳng lành, Lánh đường đào mận an mình phong lưu (B112)

Thiên Hỉ
Thiên Hỉ thủ Mệnh thì miệng cười rất có duyên. Hỉ Thần, Thiên Hỉ, Hồng Loan là ba sao đem lại vui tươi may mắn trong cuộc sống:
Sao Thiên Hỉ chủ mừng vui, Thiên Hỉ thủ Mệnh, miệng cười có duyên,
Hỉ Thần, Thiên Hỉ, Hồng Loan, Ba sao đem lại hân hoan trong đời (AB337)

Đào, Hồng hay Hỉ hội với các phụ tinh
Nữ mệnh có Hồng Loan đồng cung với Tử Vi hay Thiên Phủ thì là người chính chuyên, thục nữ:
Sao Hồng Loan hội cùng Tử, Phủ, Gái chính chuyên, thục nữ ngàn xưa (AB336)

Mệnh Đào hay Hồng mà có Thiên Hình đồng cung thì có tiết hạnh, tề gia nội trợ:
Đào Hồng cung Thiên Hình đồng hội, gái tiết trinh hiền nội tề gia (20)

Mệnh Đào Hoa tại Mão hay Dậu có Tả Hữu đồng cung tại Sửu hay Mùi chiếu thì trước dở sau tốt:
Sao Tả Hữu đồng cung gặp gỡ, Mệnh Đào Hoa trước dở sau nên (B47,11)
Sao Tả Hữu đồng cung gặp gỡ, Mệnh Đào Hoa trước dở sau hay

Đào Long Phụ Bật phùng sau trước, Hoặc Đào, Nô lỡ bước cầu ô

Mệnh có Thiên Đức hay Nguyệt Đức thủ gặp Đào Hoa hay Hồng Loan thì thì là người xinh đẹp, lấy được vợ hiền chồng sang. TVT ghi Đào Hoa hay Tham Lang miếu vượng vì Tham Lang cùng là Đào Hoa tinh:
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào tinh, trai sinh gái đẹp vợ lành chồng sang (15)
Thiên Nguyệt Đức ngộ Hồng thực nghiệm, Được chồng sang vợ đẹp hòa đôi (B112)
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào tinh, Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang
Thiên Nguyệt Đức Đào Hồng cung Phối, Gái chồng sang, trai hội giai nhân

Thân có Hồng Đào gặp Thai Tọa thì có công danh, theo TVT nhưng muộn màng mới có:
Thân hữu Hồng Đào kiêm Thai Tọa nhi công danh khả tất (22, B68)

Mệnh Hồng Loan gặp Bát Tọa thì tuổi trẻ đã có công danh. Nguyễn Mạnh Bảo cho rằng tại Quan cũng vậy:
Mấy người ít tuổi (niên thiếu) công danh, Hồng Loan, Bát Tọa ở mình chẳng sai (QXT, VT)
Người tuổi trẻ công danh đầy tá, Tọa Mệnh Quan Hồng, Tọa chẳng sai (B104)
Những người niên thiếu danh ghi, Hồng Loan Bát Tọa ở vì Mệnh cung

Nữ nhân tuổi Giáp Mệnh Sửu Mùi có Xương Khúc Hồng Lộc thì là người đức độ hiền lành, đáng bậc hiền phụ và hưởng giàu sang trọn đời, rất vượng phu ích tử. Chú ý Tử Phá, Thiên Phủ và Vũ Tham tại Sửu Mùi thì tuổi Giáp có Hóa Lộc thủ hoặc chiếu:
Xương Khúc Sửu Mùi, Giáp nhân Dương nữ kiêm phùng Hồng Lộc hiền phụ chi nhân (13, TTL)

Mệnh Hồng Loan gặp Không Kiếp thì không thể phú quí được, không chết non cũng nghèo hèn:
Mệnh trung Hồng ngộ Kiếp Không, mạc đàm phú quí (3, B69)
Hồng Loan ngộ Kiếp Không đồng thủ (lâm thủ), xá bàn chi bần lũ (những lũ) yểu vong (9)
Hồng Đào Không Kiếp đồng danh, Ấy phường yểu tử đã đành một hai

Mệnh có Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ chiếu thì chết non:
Nhan Hồi yểu tử do hữu Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ Mệnh (19)
Nhan Hồi yểu tử (chết yểu) do hữu Kiếp Không Đào Hồng Đà Linh thủ Mệnh (8, TTL)

Mệnh có Đào Hoa tọa thủ thêm Địa Kiếp thì là người chơi bời suốt đêm mơ tưởng đến người đẹp:
Lãng lý Đào xa gia Địa Kiếp, tam canh giai tưởng ư giai nhi (5)
Lãng lý Đào Hoa gia Địa Kiếp, tam canh khai tưởng ư giai nhi (B83)

Đào Riêu đồng cung (chú ý rằng Thiên Riêu luôn có Thiên Hình tam hợp) thì lang chạ, không chung thủy, rất lẳng lơ dâm đãng, lẳng lơ, ngoại tình nếu không có sao giải mạnh như Tử Phủ, Thiên Hình, Khôi Việt:
Đào Riêu số gái ai hay, Chồng ra khỏi cửa, dắt tay trai vào (11)
Kìa những người phượng chạ, loan chung, Đào Riêu số ấy trong lòng chẳng trinh (HC)
Kìa người phượng chạ loan chung, Đào Riêu số ấy trong lòng chẳng trinh (B107)
Đào Riêu hội bên mình khá rõ, Không Quí, Hình, Tử Phủ ngoại dâm

Thiên Riêu Thiên Hỉ đồng cung hay xung chiếu thì bị nhiều tai họa quái ác:
Thiên Riêu Thiên Hỉ đa chiêu quái dị chi tai (14)
Số Riêu Hỉ tai bay vạ gió, Số Kiếp Không lắm độ gian manh
Tham Liêm hãm mệnh gian tà, Hồng Đào Riêu Hỉ ắt là dâm bôn

Phu Thê có Thai thủ gặp Đào thì vợ chồng đi lại ăn ở với nhau rồi mới lấy nhau:
Sao Thai lại gặp Đào Hoa, Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng (AB, VT)
Sao Thai lại gặp Đào Hoa, Trước êm loan gối, sau hòa phụng chiêm (B105)
Thai tinh (sao Thai) mà gặp Đào Hoa, tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng (28)

Đào, Hồng, Hỉ, Thai thủ gặp Phục Tướng thì trai gái nguyệt hoa bừa bãi. Chú ý rằng Thai và Đế Vượng xung chiếu, Phục Binh và Tướng Quân xung chiếu nên trong cung phải có Phục Binh hay Tướng Quân thủ:
Đào Hồng Thai Hỉ (Thiên Hỉ) trong soi, ngoài gia Binh Tướng (Tướng Quân) gái trai ngang tàng (17)
Đào Hồng Thai Hỉ trong soi, Ngoại gia Binh Tướng gái trai ngang tàng (B42)
Đào Hoa, Thai, Hỉ trong soi, Ngoài ra Binh, Tướng ả vui hoang tàng (QXT, chị em gái bất chính)
Đào Hồng Riêu Hỉ trong ngoài, Lại gia Binh Tướng gái trai hoang tàng

Thai Binh Tướng Đào Hồng tương hợp, Chẳng chửa hoang bị hiếp bất ngờ

Mệnh có Hồng Loan thì khéo về nghề thêu may, gặp Phục Binh hay Tướng Quân thủ đồng cung thì dễ bị tai nạn, có lẽ chủ yếu về trinh tiết:
Hồng Loan may vá cửa canh, hiềm phùng Binh Tướng ắt sinh tai nạn (18)
Hồng Loan may vá của canh, Đối Binh Tướng lại, gái sinh tai nạn (B49)

TVT cho rằng nữ Mệnh cung Tử Tức có Thai Đào gặp Kiếp Sát thì hiếm con:
Nữ Mệnh Thai Đào phùng Kiếp (Kiếp Sát) gián đoạn tử cung (4)

Mệnh có Đào Hoa (biểu tượng là rượu) gặp Phi Liêm thì lúc nào cũng rượu chè say sưa như Nguyễn Tịch đời nhà Tần:
Đào Hoa ngộ Phi Liêm, Nguyễn Tịch Tấn triều nhi túy khách (6, B86)

Mệnh Kiếp Thân Không gặp Hồng Loan và Kình Dương, nếu Mệnh có chính tinh thì tiền vận vất vả, nhưng nếu được Nhật Nguyệt hay Tử Phủ hội họp thì suốt đời được hưởng phúc giàu sang hơn người:
Mệnh Kiếp Thân không nhi giao Hồng Nhận (gặp Hồng Loan và Kình Dương) ư tuế Mệnh lạc chính tinh tiền đồ đa khổ (tiền vận vất vả) nhi hữu Âm Dương Đế diệu Mệnh Thân (nhưng nếu được Nhật Nguyệt hay Tử Phủ hội họp), chung niên phúc hoạnh sinh tài (20)

Đào Hồng Hỉ với các chính tinh
Mệnh Tử Vi gặp Hồng Đào Không Kiếp thì giảm thọ vì Tử Vi và Đào Hồng đều tối kỵ gặp Không Kiếp:
Tử Vi mạc phùng Kiếp Không Hồng Đào nhập Mệnh giảm thọ (27, TTL)

Mệnh có Đào Hỉ gặp Tử Vi hay Thái Dương hội họp thì giàu sang. NMB ghi Mệnh có Đào Hỉ có Tử, Dương chiếu thì giàu sang:
Mệnh cư Đào Hỉ (Thiên Hỉ) hướng Tử Dương nhi phú quí kham kỳ (2, B68)

Mệnh và Thân đều có Tử Phủ Khoa Quyền Hình Ấn Hồng Khôi thì công danh rất tốt đẹp, như Lưu Bị kế nghiệp nhà Hán:
Lưu Huyền Đức đạt thừa Hán nghiệp thị ư Tử Phủ Khoa Quyền Hình Ấn Hồng Khôi Mệnh, Thân (45, TTL)
Hạn có Tử Phủ Vũ Tướng lại gặp Hồng Quyền thì gặp thời cơ tốt cho sự nghiệp, như Khương Tử Nha mừng gặp Văn Vương:
Hạn phùng (hạn có) Tử Phủ Vũ Tướng, hạnh đắc (mừng gặp) Hồng Quyền, Khương Công hỉ ngộ Văn Vương (73)

Phu cung có Tử Phủ Vũ Tướng gặp Riêu, Đào Hoa người tuổi Giáp, Mậu thì là gái giang hồ lưu lạc nay đây mai đó nhưng lên làm bà lớn vì được chồng quí hiển:
Tử Phủ Vũ Tướng Phu cung, gia hợp Riêu Đào (Đào Hoa) ư Giáp Mậu nhân, giang hồ chi nữ (80)

Tử Vi Thất Sát tại cung Tỵ thì ví như vua mang kiếm báu tất nhiên có uy quyền và phú quí, gặp Hỏa Tinh, Tuyệt hội họp thì người khát máu, tàn nhẫn, hay giết người, nhưng lại gặp thêm Bật Khoa Mã Ấn Tràng Sinh, Hồng Loan thì lập được chiến công thần kỳ, là Ðại Tướng:
Sát Tử (Tử Vi Thất Sát) Tốn cung (cung Tỵ) Ðế huề bảo kiếm, Hỏa (Hỏa Tinh) Tuyệt nhập xâm, đa sát chi nhân, hạnh ngộ Bật Khoa Mã Ấn Sinh Hồng di lập chiến công vi Ðại Tướng (TTL)

Đào Hồng Hỉ, Tấu Thư gặp Vũ Khúc hội họp thì là người ca xướng múa hát giỏi. Có người cho rằng đây là trường hợp Đào Hồng Hỉ, Tấu Thư gặp Thiên Cơ :
Hồng Loan Tấu Hỉ (Thiên Hỉ) Vũ Đào, những phường ca xướng tiến vào cửa quan (12)
Hồng Loan Tấu Hỉ Vũ (Vũ Khúc) Đào, Những phường ca xướng tiến vào nhà quan
Hồng Loan, Tấu, Vũ, Hỉ, Đào, Những phường ca vũ danh vào cửa quan (QXT, VT)
Đào Tấu Hỉ Vũ Hồng họp mặt, Người xướng ca tiếng nức nhà quan (HC)
Sao Vũ Khúc, Hồng, Đào, Hỉ, Nơi giao phòng danh vị nhà quan (Vũ Khúc Đào Hồng Hỉ thì có quan chức) (NMB)
Hồng Cơ Tấu Vũ Hỉ Đào, Gái nghề ca xướng luận vào Mệnh viên
Hồng Cơ Tấu Vũ Hỉ Đào, Câu ca, điệu vũ, nghề nào cũng tinh (AB336)

Mệnh có Đào Hồng Tấu gặp Vũ thì khéo về kim chỉ vá may:
Khéo nghề kim chỉ vá may, Đào Hồng Tấu Vũ ở đầy Mệnh cung (13)
Khéo nghề kim chỉ vá may, Hồng Đào Tấu Vũ ở đầy Mệnh cung (NMB, VT)
Khéo nghề kim chỉ thêu thùa, Hồng Đào Tấu Vũ ở vào mệnh cung (HC)
Người kim chỉ vá may khôn khéo, Tấu Vũ Hồng thủ chiếu Mệnh cung (B108)
Riêng Quản Xuân Thịnh và Việt Viêm Tử thì có hai câu phú sau. Tang Môn và Hồng Loan không bao giờ tam hợp xung chiếu nhị hợp nhau nên cần xét lại câu phú của Quản Xuân Thịnh:
Cơ Loan Hồng Phúc Mệnh trung, Cửi canh kim chỉ vá may thêu thùa (AB342)
Khéo nghề kim chỉ vá may, Cơ, Tang, Hồng, Phúc ở rầy Mệnh cung (QXT)

Mệnh Đào Hồng gặp Thiên Cơ thì vẽ rât đẹp như Doãn Vi là họa sĩ tài ba:
Đào Hồng ngộ Thiên Cơ, Doãn Vi sảo họa (4, B70)
Nữ Mệnh có Đào Hồng Sát Phá Tham Liêm thì có số sát chồng, chồng chết sớm:
Đào Hồng Sát Phá Tham Liêm, Lâm vào nữ phái chỉ hiềm sát phu (AB341)

Mệnh có Tướng Hồng thì rất xinh đẹp. Nữ Mệnh có Thiên Tướng Hồng Loan thì lấy được chồng giàu sang danh giá:
Thiên Tướng là mặt con người, Hương trời sắc nước, Mệnh ai Tướng Hồng (AB)
Tướng Hồng số gái yên vui, Chồng sang kết nguyện phúc thôi dồi dào (HC)
Tướng Hồng (Hồng Loan) Nữ Mệnh, quí nhân hảo phối (9, TTL)

Thiên Tướng gặp Ðào Hoa hoặc Hoa Cái có Văn Khúc, Mộc Dục hội họp thì xinh đẹp nhưng đa tình, dâm đãng:
Tướng ngộ Cái (Hoa Cái) Ðào (Ðào Hoa) Khúc (Văn Khúc) Mộc (Mộc Dục) thuần tước dâm phong (11, TTL)
Thiên Tướng gặp Khúc Cái Mộc Đào, Vốn là phúc trọng, tính âu đa tình (HC 76)
Tướng và Khúc hội Đào, Mộc, Cái Sắc khuynh thành nhưng rất dâm bôn (AB326)

Thiên Tướng ngộ Lộc xung trung tọa,
Cửa mận đào có kẻ tài chân (B41)
(Tướng gặp Lộc thì là người có chân tài trong đám quần thoa) (B41)
Tướng ngộ Đào, Hồng củng chiếu,
Ngồi màn Đào có ả Thôi Nương (chị em gái tài hoa – QXT)

Thiên Tướng tại Mão gặp Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương thì mặt xinh đẹp mà võ nghệ rất giỏi, hạn gặp Phá Ðà Kình Kiếp thì vì dâm ô mà chết như Lã Bố:
Tướng lâm Chấn địa (cung Mão) Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương diện hoa vũ bá, vận phùng (hạn gặp) Phá Ðà Kình Kiếp Lã Bố do dâm mãn kiếp (12)

Mệnh có Thái Dương gặp Đào Hoa và sát tinh hội họp thì mắt nhỏ mắt to. Chú ý Thái Dương không tam hợp xung chiếu với Thất Sát thành ra Sát là sát tinh thì hợp lí:
Người mà mắt nhỏ mắt to, Nhật phùng Đào, Sát tương phò Mệnh viên

Phúc Đức tại âm cung có Nhật Nguyệt gặp Thiên Hỉ thì có anh em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha:
Âm Dương sánh với Hỉ tinh (Thiên Hỉ), Âm cùng với Phúc cũng sinh dị bào (B42, 23)
Nhưng Quản Xuân Thịnh thì cho rằng:
Thái Âm hiềm có Thiên Cơ,
Âm cùng mấy Phúc đồng sinh lưỡng bào (QXT)

Cung Tử Tức có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu gặp Thiên Hỉ tọa thủ thì vui mừng, hàm ý tất sinh quí tử. TVT giải rằng cung Tử Tức có Nhật Nguyệt chiếu gặp Thiên Hỉ tọa thủ tất sinh quí tử. Đòi hỏi Nhật Nguyệt sáng thì hợp lý vì minh có nghĩa là sáng
Tử Tức Thiên Hỉ thủ trung, Nhật Nguyệt lai chiếu sinh giòng quí nhi
Sở hỷ gia Thiên Hỉ nhị minh (Nhật Nguyệt) phù Tử Tức chi cung (68)

Nhật Nguyệt Sửu Mùi thì giảm mất ánh sáng nên kị gặp sát tinh, nếu gặp Xương Khúc, Ân Quang, Thiên Quí, Thai Tọa, Khôi, Hồng Loan thì văn tài lỗi lạc, lý luận sắc bén, biết tiến thoái xử sự đúng lúc nên công thành danh toại, vinh hiển. Chú ý trong trường hợp này thì Xương Khúc sẽ đồng cung có tác dụng gia tăng ánh sáng cho Nhật Nguyệt, bộ Hồng Loan Thai Tọa thì chủ về hanh thông trong quan trường:
Nhật Nguyệt Sửu Mùi, Âm Dương hỗn hợp tự giảm quang huy (giảm mất ánh sáng) kị phùng (kị gặp) sát tinh, nhược lai văn diệu (nếu gặp văn tinh là Xương, Khúc), diệc kiến Quí, Ân (Ân Quang, Thiên Quí) Thai, Tọa, Khôi, Hồng (Hồng Loan) văn tài ngụy lý, xuất sử thành công (văn tài lỗi lạc, lý luận sắc bén, biết tiến thoái xử sự đúng lúc nên công thành danh toại, vinh hiển) (TTL)
Thái Vân Trình thì viết hơi khác một chút:
Nhật Nguyệt Sửu Mùi, Âm Dương hỗn hợp tự giảm quang huy (giảm mất ánh sáng) kị phùng (kị gặp) Kiếp, Triệt (Địa Kiếp và Triệt án ngữ), nhược lai văn diệu (nếu gặp Xương Khúc), diệc kiến Quí Ân (Ân Quang, Thiên Quí), Không Linh Thai Tọa Khôi Hồng (Hồng Loan) văn tài ngụy lý, xuất sử thành công (18)

Thái Dương cư Hợi là cách Nhật trầm hải nội hay Nhật trầm thủy để nên không được tốt đẹp, nhưng nếu được Khoa Quyền Lộc chiếu, Tả Hữu Hồng Khôi hội họp nên lập được kỳ công, có sự nghiệp lớn lao trong thời loạn, và nếu Nhật gặp Phượng Long Cái Hổ mà không có sát tinh thì sẽ có công danh tài lộc trong thời bình. Chú ý Thái Dương tại Hợi không bao giờ có đủ Tam Hóa hội họp, mà chỉ có hai sao là tối đa. Cụ thể:
Tuổi Ất có Quyền Lộc Tồn Hóa Kỵ tam hợp chiếu
Tuổi Mậu có Quyền Quan Phúc Việt tam hợp chiếu, Lộc Tồn Lưu Hà xung chiếu
Tuổi Canh khi an Tứ Hóa theo Dương Vũ Âm Đồng thì có Hóa Lộc Thiên Quan Hao LNVT thủ, Khoa Đà chiếu trong đó Đà La tại Mùi bị Triệt.
Tuổi Tân có Quyền thủ Hóa Lộc Thiên Phúc Quốc Ấn chiếu và nếu có Khúc thì sẽ có Khoa
Tuổi Nhâm thì có Lộc Tồn Lưu Hà thủ và có Hóa Lộc Quốc Ấn tam hợp Khôi Việt chiếu trong đó Khôi bị Triệt. Nếu có Tả Phù thì sẽ có Hóa Khoa
Tuổi Quí thì có Đà la thủ , Khôi Việt Quyền Khoa Thiên Phúc Đường Phù Hao LNVT chiếu
Như vậy câu phú có thể liên quan đến tuổi Canh, Tân, Nhâm, Quí:
Nhật cư Hợi địa, Nhật trầm hải nội (mặt trời chìm xuống đáy bể không tỏa được ánh sáng nên rất mờ ám. TTL dùng từ Nhật trầm thủy để, tức mặt trời chìm đáy nước), ngoại củng (ngoại hữu, bên ngoài có, ý nói được chiếu) Tam Kỳ (Khoa Quyền Lộc) Tả Hữu Hồng Khôi kỳ công quốc loạn dĩ viên thành (lập được kỳ công, có sự nghiệp lớn lao trong thời loạn), hoan ngộ Phượng Long Cái Hổ bất kiến Sát tinh thế thịnh phát danh tài (trong thời bình thì có công danh tài lộc) (40. TTL)

Thái Âm miếu vượng đắc gặp Hồng Loan, Kình Dương, Hóa Kỵ, Thiên Riêu thì ví như hoa sen hé mở, rất quyến rũ, tiểu hạn gặp Xương, Vũ thì động lòng xuân, tưởng đến chuyện trăng hoa nên rất dễ xa ngã (cần coi lại câu này)
Âm tăng (Thái Âm miếu vượng đắc) Hồng (Hồng Loan) Nhận (Kình Dương) Kỵ (Hóa Kỵ) Riêu (Thiên Riêu) tán liên hàm tiếu (hoa sen hé mở, rất quyến rũ) tiểu hạn phùng Xương Vũ dâm tự xuân tình liên xuất phát (động lòng xuân, tưởng đến chuyện trăng hoa nên rất dễ xa ngã) (15)

Hạn có Nhật gặp Kiếp, Hồng Loan, Binh, Khốc tất cha già đau bịnh mà chết vì Nhật tượng trưng cho cha hoặc chồng:
Nhật ngộ Kiếp Hồng Binh (Phục Binh) Khốc thân phụ tận niên thọ hưởng ai thương (70)

Cơ Thục Ái là gái sống nay đây mai đó, hạn gặp Cơ Nguyệt Đồng Hồng Hỉ Khôi Xương Khúc Tấu Thư, Phúc Đức nên được vua Thục mời vào cung:
Cơ Thục Ái giang hồ chi nữ , hạn phùng Cơ Nguyệt Đồng Hồng Khôi Xương Khúc Thư (Tấu Thư) Phúc (Phúc Đức) Hỉ (Thiên Hỉ): huê mong Thục Đế chi cung (được vua Thục mời vào cung) (28)

Sát, Phá, Liêm, Tham gặp Khoa, Quyền, Lộc lại có Hồng Loan, Thiên Hình, Tả Hữu thì là người tiếng tăm lừng lẫy, nếu bị Hóa Kỵ, Không hay Triệt xâm phạm thì cả đời không thành công, nếu có cũng không bền:
Sát, Phá, Liêm, Tham Tam Kỳ (Khoa Quyền Lộc) gia hội lai triều Hồng, Hình, Tả Hữu uy danh nhất thế chi nhân (là người tiếng tăm lừng lẫy), Kỵ Không Triệt chung thân tác sự nan thành (40)

Thất Sát gặp Thiên Hỉ thì vẻ ngoài ôn thuận nhưng rất gan lì, có người cho rằng phong nhã uy nghi :
Sát phùng Thiên Hỉ tương giao, Có vẻ ôn thuận, ai nào biết gan
Sát phùng Thiên Hỉ khá hay, Ấy người phong nhã uy nghi mọi đàng

Mệnh hay Thân có Phá Quân gặp Không Kiếp Hồng Loan thì bị chết yểu. Thật ra Hồng Loan gặp Không Kiếp đã là cách chết yểu:
Phá Quân, Không, Kiếp, Hồng Loan, Vào cung Thân, Mệnh xá bàn yểu vong (B104)

Thiên Di có sao Tướng Quân, Phá Quân, Phục Binh trong lại có sao Thai ngoài có Đào Hồng là người dâm dục quá độ, tư thông làm cho người ta chê cười:
Tướng Phá (Phá Quân) Phục nội tàng Thai diệu, Ngoài Đào Hồng tú (sao Hồng Loan) chiếu Thiên Di,
Có người dâm dục thị phi, Tư thông chi để kẻ chê người cười (B43)
Tướng, Phá, Phục trong làng Thai diệu, Ngoài Đào, Hồng, Hoa Cái, Thiên Di
Có người dâm dục thị phi, Tư thông chi để kẻ chê người cười (QXT)

Mệnh có Liêm Trinh tọa thủ gặp Hồng Loan, Thiên Khôi, Văn Xương hội họp thì là mưu sỉ được trọng dụng và rất nổi danh. Thiết tưởng cần Liêm sáng sủa. Có người cho rằng đây là cách Hồng, Khôi, Xương, Tấu hội họp:
Hồng Khôi Xương Liêm phù trì, sân rồng dâng trước, trong thì danh cao (14)
Hồng Khôi Xương Liêm phù trì, Sân rồng dấn bước, ghi tên cửu trùng
Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù trì, Sân rồng kén bảng, danh đề ở cao (QXT)
Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù tri, Sân rồng đứng trực, xem thì ngôi cao (VT)

Mệnh Tham Đào thì râu tóc rậm rạp, mệnh Vũ Kỵ thì mắt đen:
Tham Đào tốt tóc xanh râm,
Mắt đen Vũ, Kỵ chẳng nhầm một ai

Nữ Mệnh có Tham Đào Hoa hãm địa thì độc ác, thâm hiểm và rất dâm đãng nhưng gặp Triệt Tuần thì tính tình nhân hậu, đoan chính, cởi mở, không nhỏ mọn đố kỵ. Điều này cho thấy Triệt Tuần có ảnh hưởng mạnh đối với Tham Lang:
Tham Đào (Đào Hoa) tại nhàn cung (hãm địa), Nữ Mệnh độc phụ chi nhân, ngộ Triệt Tuần tâm tình thư thái (30, TTL)
Đào Hồng tại các cung
Cung Điền
Cung Điền có Ân Quang hay Thiên Quí gặp Đào Hồng thì hưởng di sản của cô dì để lại:
Quí Ân ngộ Đào Hồng Điền Trạch, Cô dì lưu tài bạch ruộng nương
Ân Quang ngộ Đào, Hồng Điền Trạch, Ấy cô dì lưu lại ruộng nương (QXT, VT)
(được hưởng di sản tiền bạc nhà đất của cô dì để lại)
Điền cung Ân ngộ Đào, Hồng, Của cô dì đã qui tông sẵn sàng (B108)

Cung Quan
Đào Hoa hoặc Hồng Loan cư Quan thì rất tốt vì gặp may mắn trên quan trường, làm quan sớm, hiển đạt sớm, được vua tin dùng, hoạn lộ được nhẹ bước thang mây trong khi Thiên Di thì tối kỵ gặp Không Kiếp ra ngoài có nhiều kẻ thù ám hại. Nguyễn Mạnh Bảo cho rằng Hỉ là Thiên Hỉ thì không đúng. Chú ý rằng Đào Hoa tại Quan thì Mệnh có Kiếp Sát:
Đào Hoa cư Quan tảo tuế (nhỏ tuổi) đắc quan hành chính (21, B57)
Quan cung hỷ ngộ Hồng Đào, Thiên Di tối kỵ Kiếp Không lâm vào (23)
Quan cung Hỉ ngộ Đào Hồng, Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào (B103)
Quan cung mừng được Đào Hồng, Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào (QXT)
(Quan Lộc Mã gặp Thiên Hỉ Đào Hoa Hồng Loan thì . Thiên Di gặp Không Kiếp thì xấu, có thể bị chết đường hoặc ăn cướp giết)
Cung Quan Lộc Hồng Đào hội họp, Miền Thiên Di Không, Kiếp phải e
Cung Quan mừng gặp Đào Hồng, Thiên Di tối kỵ Kiếp Không lâm vào
Đào Hoa giữ ở cung Quan, Gặp thời hanh chính vừa tầm đáng trai (B113)

Cung Nô
Nô Bộc có Đào Hoa thì có vợ cho cắm sừng. Nam Mệnh mới có cách này (AH):
Hoa Đào nở trái Nô cung, Thiếp Thê mang tiếng bất trung cùng chồng (B37)
Cây đào mọc ở Nô cung, Vong Phu mắc tiếng, bất trung cùng chồng (QXT)

Cung Thiên Di
Thiên Di gặp Đào Hồng thì ly hương mà lập gia đình:
Vợ chồng viễn phối tha hương, Đào Hồng len lỏi vào làng Thiên Di (29)
Vợ chồng viễn phối tha hương, Đào Hồng len lỏi (đóng chỗ) vào làng Thiên Di
Kìa người phải tha hương định phối, Bởi Đào Hồng tỏ lối Thiên Di (B108)

Cung Phối
Phu Thê có Đào Hồng thì vợ chồng sinh đẹp:
Cung Phu lại Đào Hồng tương ngộ, Vợ với chồng đều có dung nhan
Cung Phu Phụ Đào Hồng tương ngộ, Vợ với chồng đều có dung nhan (B44)
Cung Thê Thiếp, Đào, Hồng tương ngộ, Vợ mấy người đều có dung nhan (QXT)

Cung Thê có Hồng Loan thì khắc vợ trước:
Hồng Loan cư Thê tiền khắc (21)

Cung Phu đóng ở tứ vượng (Thìn Tuất Sửu Mùi hay Tứ Mộ) gặp Hồng Loan thủ thì số khóc chồng, tình duyên lận đận. Chú ý đây là người tuổi Dần Thân Tỵ Hợi. Tuổi Dần Thân thì Phu tại Sửu Mùi có Trực Phù Hồng Loan thủ gặp Cô Quả, Mệnh Không Đào Mão Dậu. Tuổi Tỵ Hợi thì Phu tại Thìn Tuất có Tử Phù Nguyệt Đức Hồng Loan thủ, Quả Tú chiếu, Không Đào tại Tí Ngọ tam chiếu, Mệnh có Long Đức thủ gặp Cô Quả tam hợp, Không Đào xung chiếu:
Sở ai giả Hồng Loan tứ vượng liệt phu quân chi vị (25)

Phu có Hồng Loan (có người ghi là Hồng Đào) đồng cung vói Hóa Kỵ thì vợ chồng có phen bỏ nhau chia ly và còn muốn lập gia đình lần nữa. QXT ghi rằng vừa bỏ chồng hoặc chồng vừa chết thì đã có người muốn lấy:
Hồng Loan ngộ Kỵ Phu cung, tơ hồng đã dứt, má hồng còn ưa (30, NMB, VT)
Hồng Đào ngộ Kỵ Phu cung, Tơ hồng đã dứt, má hồng còn vương (HC 174)
Phu cung Kỵ gặp Đào Hồng, Tơ hồng đã dứt má hồng lại yêu (B108)
Hồng Loan ngộ Kỵ Phu cung, Tơ hồng chưa tắt, má hồng đã xui (QXT)
Hồng Loan ngộ Kỵ cung Phu, Gái ngồi quạt mồ, lòng dạ xốn xao (AB336)

Phu có Hồng Loan Địa Kiếp, Mệnh tốt thì ăn ở với nhau đến 100 tuổi, Mệnh xấu thì chỉ ăn ở với nhau được 10 năm:
Hồng Loan phùng Địa Kiếp ư Phu Quân, Mệnh hảo chi bách, bất hảo chi thập (27)
Địa Kiếp với Hồng lâm Phu vị, Cung Mệnh sinh duyên ấy trăm năm,
Mệnh xấu duyên dứt tơ tằm, Sinh ly sẽ định loan phòng mười năm

Cung Phu có sao Hồng Loan là chồng nhiều vợ, gặp Tứ Sát (Kình Đà Hỏa Linh, nên thêm Không Kiếp) là bị góa:
Hồng ngộ Phu Thê nay thiếp nọ, Tứ Sát gia tiền độ bi ai (B46)

Đào Hồng tại hạn
Mệnh Đào Thân Hồng thì có nhiều người theo đuổi nhưng hạn có Thái Tuế thì không có ai lai vãng. Quản Xuân Thịnh thì cho rằng hạn gặp Tuế Kiếp và giải là đánh đuổi vợ:
Mệnh Đào Thân lại Hồng Loan, vận phùng Thái Tuế, khả hoàn thấy chi (16)
Mệnh Đào, Thân lại Hồng Loan,Vận phùng Tuế, Kiếp đả hoàn thê nhi (QXT)
Mệnh Đào, Thân lại Hồng Loan, Hạn gặp Tuế Kiếp phượng hoàng rẽ duyên (HC 163)

TVT cho rằng tuổi Ất Tân hạn gặp Hao, Kiếp Sát, Đào Hồng thì phải đề phòng người làm phản, nếu gặp Khoa hay Thiên Phủ thì không sao. Chú ý tuổi Ất Tân thì Song Hao Tí Ngọ gặp Đào Hoa Tí Ngọ:
Hao Sát Hồng Đào, Ất Tân hạn đáo, đa phùng phản phúc, Khoa Phủ hạnh cầu (6)

Hạn gặp Riêu Hỉ Đào Hồng thì hay nghĩ đến chuyện nghĩ đến chuyện trai gái xác thịt làm tình:
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, gái trai tơ tưởng những lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mơ tưởng trong lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mang một tấm lòng tà dâm (VT)
Các câu phú dưới đây ghi là Hoa Cái gặp Đào Hồng Hỉ thì không đúng:
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn
Vận hạn Đào Hồng Hoa (Hoa Cái) Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm ô (B110)
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn

Hạn có Thai gặp Hỉ, Thanh Long thì có con, Nguyễn Mạnh Bảo thì ghi rằng Thai gặp Hỉ Phi nhưng nên biết Phi Liêm và Thanh Long tam hợp với nhau. Theo TVT thì là trường hợp Thai gặp Đào Hoa Thiên Hỉ:
Thanh Long, Thai, Hỉ hợp miền, Vợ đi thai nghén khá xem phúc nhà
Thai tinh, Long (Thanh Long), Hỉ vận này, Vợ thời thai dựng đến ngày khai hoa (QXT)
Thai phùng Long Hỉ vận này, Vợ mình ắt đã đến ngày nở hoa (VT)
Thêm đinh ấy Thai cùng Phi (Phi Liêm) Hỉ, Lên đậu năm Cái tỵ Dương Đà (hạn Hoa Cái gặp Dương Đà thì mắc bệnh đậu) (B110)
Thai phùng Đào Hỉ vận này, vợ chồng mừng đã đến ngày nở hoa (hạn sanh con) (12)
Các câu phú cần xét lại
Ân Khôi Quí Việt Liêm Hồng, Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
Ân Quí Khôi Việt Liêm Hồng, Trai cận cửu trùng, gái tắc cung phi
Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng, Trai cận cửu trùng, gái tắc cung phi (QXT)
(Trai làm đến công khanh, gái thì làm vợ vua chúa)
Ân Khôi Quí Việt Cái Hồng Nam cận cửu trùng, nữ tác cung phi (AB)
Đà Ân Quí Việt Tấu Hồng Nam cận cửu trùng, nữ tác cung phi (VT)
Quí Ân Tấu Việt Đào Hồng, Lục cung gái đẹp Tam Công giai tài (B112)

Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà, Vận phùng năm ấy đậu hoa phải phòng
Kình Dương Hoa Cái ngộ Đà, Vận phùng năm ấy, đậu hoa phải phòng (QXT)
Đào Hồng Hoa Cái ngộ Đà, Hạn hành năm ấy đậu ma phải phòng (VT)
(bị lên đậu)

Hạn gặp thì lập gia đình:
Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Hỉ, Hồng, Hôn nhân vận ấy đèo bồng thất gia
Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Quả (Quả Tú), Loan (Hồng Loan), Hôn nhân thuở ấy mới tròn thất gia (46)
Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Long, Loan, Trai ban binh tước, gái bàn thư cưu (NMB)(Hạn gặp, con trai thì có công danh, gái thì có người đến hỏi cưới)
Hạn có Vũ Khúc Lộc Mã Hồng Cô Quả thì lập gia đình. Chú ý Hồng Loan và Thiên Mã không hội họp với nhau

Đào Tang (Tang Môn) ở Mệnh cung sau trước, gái lẳng lơ nhỡ bước cầu ô (10)
Giải: Mệnh có Đào Hoa Tang Môn hội họp thì trước sau là gái lẳng lơ và lận đận về tình duyên. TVT giải mệnh có Đào Hoa Tang Môn hội họp thì trước sau là gái lẳng lơ kén chồng. Giải thích như vậy thì sai vì Đào Hoa và Tang Môn không bao giờ hội họp nhau, chỉ có tuổi Tỵ Hợi thì Đào Hoa và Tang Môn nhị hợp và chỉ có tuổi Dần Thân Tỵ Hợi thì có Tang Môn đứng trước Đào Hoa theo chiều thuận. Không có vị trí nào mà Đào Hoa và Tang Môn đứng cách nhau một cung cả. Câu phú này cần xét lại

Hoa Cái Phượng Cát Đào Hồng,
Trai toan bỏ vợ trong lòng chẳng khuây (NMB, VT)
Hoa Cái Phượng Cát Đào Hồng,
Trai toan nể vợ trong lòng khôn khuây (QXT)
(lòng buồn rầu tính chuyện bỏ vợ)

Hạn gặp Riêu Hỉ Đào Hồng thì hay nghĩ đến chuyện nghĩ đến chuyện trai gái xác thịt làm tình:
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, gái trai tơ tưởng những lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mơ tưởng trong lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mang một tấm lòng tà dâm (VT)
Các câu phú dưới đây ghi là Hoa Cái gặp Đào Hồng Hỉ thì không đúng:
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn
Vận hạn Đào Hồng Hoa (Hoa Cái) Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm ô (B110)
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn

Mã Đào duyên nợ tư sinh,
Không cần mối lái, ái tình kết giao
Thiên Mã và Đào Hoa không tam hợp xung chiếu hoặc nhị hợp với nhau

Phu Thê có Đào Hoa Thiên Mã thì không cần mối lái cũng lấy được nhau
Đào Hoa phùng Thiên Mã, túng khách vô môi (26)
Mã và Hồng Loan không tam hợp xung chiếu với nhau ngoại trừ nhị hợp cho tác tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi Hồng Loan có Mã nhị hợp

Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Hỉ, Hồng,
Hôn nhân vận ấy đèo bồng thất gia
Mã và Đào Hoa hoặc Mã và Thiên Hỉ không tam hợp xung chiếu, nhị hợp với nhau

Long phùng Phượng, Hỉ cũng hay,
Vui mừng mới thấy, bi ai bỗng liền (QXT, phát tán thất thường)
Hỉ ở đây phải là Hỉ Thần

Một áng có Tràng Sinh Mã Hỉ,
Đường mây xanh phỉ chí bồng tang (gặp may mắn về công danh) (B113)
Tràng Sinh, Mã, Hỉ đồng cung,
Công danh đắc lộ, vẫy vùng một phương (HC 152)
Mã và Thiên Hỉ không hội họp, như vậy Hỉ là Hỉ Thần, nhưng có thế Hỉ là mừng gặp

Thiên Cơ Tấu Thư Hồng Loan cư cung Dần gặp Lộc Tồn, Quốc Ấn thì kề cận nguyên thủ. Tuy nhiên chúng ta biết rằng Tấu Thư là một sao của vòng Bác Sĩ có đặc điểm không bao giờ tam hợp xung chiếu với Lộc Tồn, chỉ có một trường hợp duy nhất là tuổi Đinh hay Kỷ có Lộc Tồn tại Ngọ và nếu là Dương Nam Âm Nữ thì có Tấu Thư tại cung Hợi nhị hợp với cung Dần thì mới giải thích được câu phú trên
Cơ Thư (Tấu Thư) Hồng cư Dần địa, nhi phùng Lộc Ấn loan cận cửu trùng (6)

Phúc cung ngộ Tang Đào Hồng tú, Trong họ hàng ắt có quả phu
Phúc cung ngộ Tang, Đào, Hồng, Hỉ, Họ hàng thường có kẻ yểu phu (QXT)
Phúc Đức ngộ Tang Đào Hồng Phủ,Họ hàng thường có kẻ quả phu (VT)
(chồng chết sớm, góa bụa)

Phúc (cung phúc) Thai, Tang ngộ Đào Hồng,
Tôn thân có kẻ loạn phong nợ đời (trong họ hàng có kẻ vì dâm loạn mà chết) (B107)
Đào Hồng không tam hợp xung chiếu nhị hợp với Tang Môn ngoại trừ tuổi Tỵ Đào cư Ngọ và tuổi Hợi Đào tại Tí thì nhị hợp Tang Môn

Các câu phú dưới đây có lẽ ghi lộn cách giáp Đào Hồng thành giáp Đào Hoa và Tang Môn, điều này không thể xảy ra được:
Đào Tang ở Mệnh cung sau trước, Gái lẳng lơ nhỡ bước cầu ô
Tang, Đào ở Mệnh cung sau trước, Gái đã đành lỡ bước cầu ô (QXT,AB)
Đào Tang đóng ở Mệnh cung, Lẳng lơ gái ấy phụng loan dứt tình
(trước sau là gái lẳng lơ kiếm chồng. QXT ví dụ rằng Mệnh ở Tí có Đào Hoa và Tang Môn cư Sửu nhị hợp)

Thê cung thấy những chẳng lành,
Đào Hồng Hoa Cái phong tình mới e (B109)

Nữ Mệnh giáp Đào Hồng thì lẳng lơ, việc lập gia đình nhiều lần bị trục trặc, trắc trở. Câu này cần kiểm tra lai:
Mệnh vị giáp Đào, Hồng sau trước, Gái lẳng lơ nhỡ bước cầu ô (B106)
Đào Hồng ở Mệnh cung sau trước, Gái lẳng lơ nhỡ bước cầu ô (VT)
Các câu phú dưới đây có lẽ ghi lộn cách giáp Đào Hồng thành giáp Đào Hoa và Tang Môn, điều này không thể xảy ra được:
Đào Tang ở Mệnh cung sau trước, Gái lẳng lơ nhỡ bước cầu ô
Tang, Đào ở Mệnh cung sau trước, Gái đã đành lỡ bước cầu ô (QXT,AB)
Đào Tang đóng ở Mệnh cung, Lẳng lơ gái ấy phụng loan dứt tình
(trước sau là gái lẳng lơ kiếm chồng. QXT ví dụ rằng Mệnh ở Tí có Đào Hoa và Tang Môn cư Sửu nhị hợp)

Mệnh có Đào Hồng Tấu gặp Vũ thì khéo về kim chỉ vá may:
Khéo nghề kim chỉ vá may, Đào Hồng Tấu Vũ ở đầy Mệnh cung (13)
Khéo nghề kim chỉ vá may, Hồng Đào Tấu Vũ ở đầy Mệnh cung (NMB, VT)
Khéo nghề kim chỉ thêu thùa, Hồng Đào Tấu Vũ ở vào mệnh cung (HC)
Người kim chỉ vá may khôn khéo, Tấu Vũ Hồng thủ chiếu Mệnh cung (B108)
Riêng Quản Xuân Thịnh và Việt Viêm Tử thì có hai câu phú . Tang Môn và Hồng Loan không bao giờ tam hợp xung chiếu nhị hợp nhau:
Khéo nghề kim chỉ vá may, Cơ, Tang, Hồng, Phúc ở rầy Mệnh cung (QXT)
Cơ Loan Hồng Phúc Mệnh trung, Cửi canh kim chỉ vá may thêu thùa (AB342)

Tây Thi cung Phu có Cự Cơ, Song Hao, Quyền Ấn, Ðào Hồng nên khuynh đảo triều đình nhà Ngô. Cự Cơ Mão Dậu gặp Song Hao tuổi âm Đinh, Kỷ Quí mới có mà tuổi này Đào Hoa chỉ tại Tí hay Ngọ thành ra không thể gặp Đào Hoa. Cự Cơ Tí Ngọ gặp Song Hao thì tuổi Ất Tân mới có và có khả năng gặp Đào Hoa tại Tí Ngọ. Có điều Song Hao gặp Quốc Ấn thì không thể có được:
Tây Nương Tử (Tây Thi) áp đảo Ngô triều (làm vua Ngô mất nước) do hữu Cự Cơ , Song Hao, Quyền Ấn, Ðào Hồng Phu cung (17)

Dương (Kình Dương hãm) Hình Riêu Sát cung Phu,
Lại gia Linh Hỏa vợ lo giết chồng (vợ giết chồng)
Riêu, Đà, Dương, Sát cung Phu,
Lại thêm Linh Hỏa vợ lo giết chồng (vợ giết chồng)
Gặp Dương Nhận, Hình, Đào, Phá,
Gái đó là những kẻ giết chồng (VT)
(NMB cho rằng Sát là Thất Sát)

Phân biệt Thiên Hỉ và Hỉ Thần
Thiên Hỉ hành Thủy, Hỉ Thần hành Hỏa
Thiên Hỉ là sao an theo Chi năm, còn Hỉ Thần là sao của vòng Bác Sĩ an theo Can năm
Thiên Hỉ luôn luôn có Hồng Loan xung chiếu và thuộc tam hợp Dương Tử Phúc hay Âm Long Trực của vòng Thái Tuế
Hỉ Thần nằm trong tam hợp Tiểu Hao – Hỉ Thần – Quan Phủ với sự có mặt của Đà và Kình tam hợp xung chiếu
Sự phối hợp của Hỉ Thần và Thiên Hỉ với các sao khác nhau thì khác nhau. Hỉ Thần có thể kết hợp với Long Phượng còn Thiên Hỉ thì không
Cả hai sao đều chủ về hỉ sự, đem lại may mắn hanh thông

Hỉ Thần
Nhỏ lưng Hoa Cái đẹp thay, Hỉ Thần dài cổ, bụng hay khoan hòa (có cổ dài, tính khoan hòa)
Hỉ Thần, Hoa Cái tốt ghê, Khẩu thiệt không có, mọi bề đảm đang

Đào Hồng Hỉ trong tư thế phối hợp với các sao thuộc vòng Thái Tuế
Đào Hoa tại Tí Ngọ Mão Dậu phối hợp với các sao thuộc vòng Thái Tuế:
Không Đào tại Tí Ngọ có Đào Hồng
(Thiếu Dương, Thiên Không, Đào Hoa – Tử Phù, Nguyệt Đức, Hồng Loan – Phúc Đức, Thiên Đức, Kiếp Sát – Long Đức xung)
Không Đào tại Mão Dậu có Đào Hỉ, Phá Toái : là người khôn ngoan, đạo đức giả, sẵn sàng làm những việc lợi mình, hại người, có rất nhiều bồ bịch nhân tình do ăn nói ngọt ngào, lợi dụng người tình để thu lợi cho bản thân, rất đam mê sắc dục, chơi bời, tình duyên trắc trở, đổi bồ hay nhân tình luôn (Dân), lập gia đình sớm thì dễ hai đời chồng, vợ chồng xung khắc không hợp nhau

Nguyệt Đào tại Tí Ngọ (tuổi Sửu Mùi) có Đào Hồng, Cô Quả: khó tính trên vấn đề tình cảm, rất kén chọn thành ra dễ không lập gia đình, hoàn toàn không lăng nhăng bay bướm (trừ khi gặp Song Hao thì hơi bay bướm nhưng chỉ trong một giai đoạn), ăn xài tiền cẩn thận không hoang phí nhưng không keo kiệt, không lập gia đình hai lần

Nguyệt Đức, Đào Hoa tại Mão Dậu có Đào Hỉ, Cô Quả, thêm Phá Toái khi Đào tại Dậu: tính tình vui vẻ, không lăng nhăng, ăn xài tiền cẩn thận không hoang phí nhưng không keo kiệt (Không, Hỉ, Cô Thần), cuộc đời hay gặp may mắn nhưng lập gia đình nhiều lần

Thiên Đức, Đào Hồng tại Tí Ngọ có bộ Đào Hồng Hỉ (bộ Tam Minh này chủ yếu do Hồng Loan sinh ra vì Hồng Loan Thiên Đức bao giờ cũng có Tam Minh)

Thiên Đức Đào Hỉ tại Mão Dậu có bộ Đào Hồng Hỉ, thêm Phá Toái khi Đào tại Dậu

Hồng Loan phối hợp với các sao thuộc vòng Thái Tuế:
Hồng Loan khi tại Âm cung thì thuộc bộ Âm Long Trực, có Phá Toái tam hợp khi tại Tỵ Dậu Sửu và chỉ có vị trí Mão Dậu (có Thiếu Âm Hồng Loan) mới có Tam Minh:
Thiếu Âm, Hồng tại Mão Dậu có Tam Đức, Đào Hồng Hỉ: đây là người có duyên, tính tình vui vẻ, ra ngoài được nhiều người thương mến, tính tình hiền lành, biết cư xử, biết điều, không có tham vọng, hoàn toàn không lăng nhăng, không bay bướm, cuộc đời hay gặp may, gặp hoàn cảnh thuận lợi, không phải cạnh tranh gay gắt để kiếm sống, không có hai đời, rất khéo léo trong cư xử, tiền tài không phá tán

Long Đức, Hồng tại Tỵ Hợi có Hồng Hỉ, Cô, Thiên Không, Kiếp Sát: có duyên, không hai đời chồng, không lận đận về tình duyên, vợ chồng rất xứng đôi (Đào Hoa cư Phu), nghề nghiệp hay gặp may mắn (Nguyệt, Đào, Hồng chiếu Quan), tiền tài cũng thuận lợi không phá tán

Trực Phù, Hồng cư Sửu Mùi có Nguyệt Đức, Hồng Hỉ, Cô Quả

Hồng Loan tại Dương cung thì thuộc bộ Dương Tử Phúc, lúc nào cũng có Tam Minh
Không Hồng tại Dần Thân có Tứ Đức, Đào Hồng Hỉ, Cô Quả: đây là mẫu người hiền lương, có tâm tu hành, không hay lo âu, dễ gặp trục trặc trên vấn đề tình cảm đưa đến cô đơn, lập gia đình sớm sẽ dễ bị chia ly, nếu không thì lập gia đình trễ hoặc lận đận trên vấn đề tình duyên (Thiên Không, Hồng Loan, Cô Quả) nhưng trên vấn đề nghề nghiệp thường gặp may mắn hanh thông (Đào cư Quan), tiền tài ăn xài hà tiện, không hoang phí (Tài Quả Tú)

Nguyệt Hồng tại Thin Tuất có Đào Hồng Hỉ, Quả Tú: đây là người duyên dáng, có sự thu hút rất mạnh đối với người khác phái, có khả năng lập gia đình hai lần hoặc ít nhất là vợ chồng xung khắc không hợp tính nhau (Phu có Cô Quả), tính tính vui vẻ, ra ngoài có nhiều người theo đuổi nhưng mang một tâm sự cô đơn, có khả năng kiếm tiền một cách bất hợp pháp nhât là khi có sát tinh xâm phạm nhưng không giữ được tiền tài (Đào Không tại Tài)
Thiên Đức, Đào Hồng tại Tí Ngọ có Đào Hồng, Hỉ:
Thiên Hỉ
Thiên Hỉ thì khi ở Âm cung nằm ở bộ Dương Tử Phúc (luôn luôn có đủ bộ Tam Minh) và khi ở Dương cung nằm ở bộ Âm Long Trực (tại Tí Ngọ mới có bộ Tam Minh, còn lại chỉ có Hồng Hỉ mà thôi) và nằm khác bộ với Hồng Loan. Khi Hồng Loan gặp bộ Dương Tử Phúc thì Thiên Hỉ thuộc bộ Âm Long Trực, khi Hồng Loan thuộc bộ Âm Long Trực thì Thiên Hỉ thuộc bộ Dương Tử Phúc. Tại vị trí Tỵ Dậu Sửu Thiên Hỉ luôn luôn có Phá Toái tam hợp
Bộ Âm Long Trực hay Dương Tử Phúc khi đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan đều có các bộ sao trong tam hợp xung chiếu như nhau, ngoại trừ Hỉ thì có Hồng xung, Hồng thì có Hỉ xung và có Phá Toái hay không. Khi đồng cung với Hỉ hoặc Hồng, chỉ có Long Đức mới có Kiếp Sát xung chiếu, Thiếu Âm và Thiên Đức mới không có Cô Quả, Long Đức luôn có Cô Thần, Nguyệt Đức luôn có Quả Tú và Thiên Không hay Trực Phù luôn có đủ bộ Cô Quả (trong khi Đào Hoa đồng cung với Nguyệt Đức mới có Cô Quả, các vị trí khác không có):
Thiếu Âm đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan đều có Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Đào Hồng Hỉ
Long Đức đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan đều có Hồng Hỉ, Cô Thần, Thiên Không, Kiếp Sát
Trực Phù đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan đều có Nguyệt Đức, Hỉ Hồng, Cô Quả
Thiên Không khi đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan đều có có Tứ Đức, Hồng Đào Hỉ, Cô Quả
Nguyệt Đức khi đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan đều có Đào Hồng Hỉ, Quả Tú
Thiên Đức khi đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan (và cả Đào Hoa) đều có bộ Đào Hồng Hỉ

Thiên Hỉ tại Âm cung: thuộc bộ Dương Tử Phúc và có Tam Minh Đào Hồng Hỉ, thêm Phá Toái khi Hỉ tại Tỵ, Dậu, Sửu:
Bộ Không Hỉ, Cô, Kiếp Sát tại Tỵ Hợi có Tứ Đức, Hồng Đào Hỉ, Cô Quả

Hỉ tại Sửu Mùi có Đào Hồng Hỉ, Quả Tú:

Bộ Thiên Đức Đào Hỉ Mão Dậu: có bộ Đào Hồng Hỉ

Thiên Hỉ tại Dương cung nằm trong bộ Âm Long Trực, chỉ có Tam Minh tại Tí Ngọ:

Thiếu Âm, Thiên Hỉ tại Tí Ngọ có Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Đào Hồng Hỉ

Long Đức, Thiên Hỉ tại Dần Thân có Hồng Hỉ, Cô Thần, Thiên Không, Kiếp Sát

Trực Phù,Thiên Hỉ tại Thìn Tuất có Nguyệt Đức, Hỉ Hồng, Cô Quả

Bé trai sinh ra bị đâm 14 nhát dao và chôn sống va bây giờ như 1 tiểu hòa thượng đáng yêu



Người xưa nói: “Thiên hạ không ai là không có cha mẹ”, nhưng câu nói này lại không hoàn toàn đúng với cậu bé dưới đây.





Tháng 2 vừa qua, trong lúc đang đi chăn bò trên một cánh đồng ở quận Wangyai, tỉnh Khon Kaen, Thái Lan, bà Kachit Krongyut (53 tuổi) đã phát bất ngờ nghe thấy tiếng khóc của trẻ con. Sau khi tìm kiếm, bà phát hiện có một khu đất như vừa bị đào bới. Bới đống đất đá lên, bà Kachit giật mình nhìn thấy bàn chân của 1 đứa trẻ. Quá hoảng sợ, bà vội vàng tìm người nhà đến giải cứu đứa bé.
Bà Kachit cho biết: “Ban đầu, tôi còn cứ tưởng ai đó đã chôn sống thú cưng của họ. Nhưng rồi tôi nhìn thấy 1 bàn chân. Tôi cố gắng tĩnh tâm sau đó gọi điện nhờ trợ giúp. Đứa trẻ đã bị chôn sống trong tư thế mặt cúi gằm xuống dưới”.
Chồng của bà Kachit, ông Pornchai cho biết đứa bé đã bị chôn dưới hố sâu khoảng 20cm. Tại hiện trường, ông còn nhìn thấy dấu chân và nghe thấy tiếng xe máy chạy. Toàn bộ các chi tiết đều đã được ông khai báo với cảnh sát.
Sau khi được đưa đến bệnh viện, cậu bé đáng thương được chẩn đoán có dấu hiệu bị đánh đập và thậm chí trên người còn có 14 vết dao đâm.
Với nỗ lực cứu giúp của các nhà hảo tâm và đội ngũ y bác sĩ tại Bệnh viện Wangyai, cậu bé đáng thương đã hồi sinh với diện mạo hoàn toàn mới. 

Sau đó, cảnh sát tìm ra mẹ của bé trai là một cô bé tuổi teen chưa lập gia đình và người mẹ này đã bị bắt.
Trong bức ảnh mới nhất được ghi lại, cậu bé mặc chiếc áo choàng hòa thượng, đôi mắt to đen láy nở nụ cười tươi tắn.

Nạo phá thai là hành vi bất hợp pháp nhưng rất phổ biến ở Thái Lan. Theo thống kê, quốc gia này có tỷ lệ nạo phá thai tuổi vị thành niên cao nhất tại khu vực Đông Nam Á. Đây được coi là một trong những tội ác man rợ nhất của con người. Những sinh linh giống như những thiên thần ấy, chúng được sinh ra là hoàn toàn vô tội nhưng lại bị đối xử nhẫn tâm như vậy, hành động này chẳng phải đáng lên án hay sao?

Mặc dù bé trai dễ thương này chưa công khai tên nhưng mọi người tin tưởng rằng tương lai phía trước của em rất tươi sáng, “đại nạn không chết tất có phúc báo”.

Chia sẻ cho mọi người cùng xem bạn nhé!
Tử Vi Thiên Lương - Sưu tầm.

LUẬN BÀN VỀ TUẦN TRIỆT TRONG TỬ VI



Hành của Tuần & Triệt


Có người cho rằng Tuần và Triệt không có hành gì hết. Có người cho Tuần là Hỏa và Triệt là Kim. Chỉ có một điều mà tất cả mọi người đồng ý là Tuần và Triệt có thể làm sao xấu bớt xấu, sao tốt bớt tốt. Như vậy trong khoa Tử Vi, có tiềm ẩn định phân biệt các sao chính tinh và phụ tinh ra 2 loại cát và hung, trong khi Tuần và Triệt là 2 sao có thể là hung tinh hay cát tinh tùy theo nơi 2 sao án giữ.

Sự huyền bí cuả 2 sao Tuần và Triệt cũng vòng quanh theo 2 lý lẽ Âm Dương và Ngũ Hãnh. Hai sao Tuần Triệt nầy là 2 sao đặt biệt hơn các sao khác về mặt ngũ hành. Theo tôi nghĩ, Tuần Triệt không phải chỉ có một hành duy nhất, mà cả ba hành thay đổi tùy theo vị trí tọa thủ. Tuần an theo vòng Thiên Địa Nhân (Giáp thìn, Giáp dần, Giáp tý, Giáp tuất, Giáp thân, Giáp ngọ).

Tuổi phần – Tuần an – Tam Tài – Hành
_____________________ __________ ________ _____

Giáp Thìn => Quý Sửu – Dần, Mão – Thiên Hỏa
Giáp Dần => Quý Hợi – Tý, Sửu – Địa Thủy
Giáp Tý => Quý Dậu – Tuất, Hợi – Nhân Kim
Giáp Tuất => Quý Mùi – Thân, Dậu – Thiên Hỏa
Giáp Thân => Quý Tị – Ngọ, Mùi – Địa Thủy
Giáp Ngọ => Quý Mão – Thìn, Tị – Nhân Kim

Sao Triệt an theo vòng Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, …). Nếu Triệt và Tuần là 2 sao có ảnh hưởng với các sao khác giống nhau chỉ là mạnh hay nhẹ tùy theo trước sau 30 năm, thì 2 sao nầy thì cũng phải cò hành như nhau .

năm, thì 2 sao nầy thì cũng phải cò hành như nhau .

Tuổi phần – Triệt an tại – Hành
___________ __________ ____
Giáp, Kỷ – Thân, Dậu – Hỏa
Ất, Canh – Ngọ, Mùi – Thủy
Bính,Tân – Thìn, Tị – Kim
Đinh, Nhâm – Dần, Mão – Hỏa
Mậu, Quý – Tý, Sửu – Thủy

Sự ảnh hưởng của Tuần & Triệt

Trước tiên ta bắt đầu suy đoán sự ảnh hưởng của Tuần và Triệt thì ta phải ghi nhớ rằng ngũ hành của các sao không bị thay đổi mà hành của cung bị thay đổi

Như vậy 2 vị trí đắc địa của Tuần và Triệt là ở cung Kim và cung Hỏa. Khi Triệt đáo Kim cung (cung Thân, Dậu), thì Triệt mang hành Hoả (THIÊN). Và khi Tuần lâm địa Hỏa (cung tịï, ngọ) thì Tuần mang hành Kim (NHÂN) và Thủy (ĐỊA). Theo ngũ hành tương khắc, thì ta biết cung Kim bị khắc Hỏa Triệt, và cung Hỏa khắc Thủy Tuần. Có nghĩa là Hỏa Triệt đáo Kim cung (cung Thân, Dậu), và khi Thủy Tuần lâm địa Hỏa (Ngọ), thì Tuần và Triệt là chổ hoạnh phát mạnh mẽ nhất.

Thí dụ 1: Khi sao Mộc an tại cung Kim, thì sao Mộc nầy là hãm địa. Nhưng khi có Hỏa Triệt đáo Kim cung, thì Hỏa Triệt làm cho cung Kim nầy trở thành cung Kim đái Thủy. Cho nên khi sao Mộc an taị cung Kim đái Thủy thì sẽ từ hãm địa hóa thành đắc địa. Vì thế cho nên trong Tử Vi có câu Triệt đáo Kim cung là như thế.

Thí dụ 2: Trong khi sao Thủy an tại cung Kim, thì sao Thủy nầy là miếu địa. Nhưng khi có Hỏa Triệt đáo Kim cung, thì sao Thủy nầy cũng như là sao Thủy an tại cung Kim đái Thủy thì sao Thủy nầy cùng lắm trở từ miếu địa thành đắc địa chứ không thành hãm địa

Thí dụ 3: Khi sao Kim an tại cung Hỏa hay cung Ngọ, thì sao Kim nầy là hãm địa. Nhưng khi có Thủy Tuần lâm địa Hỏa, thì Hỏa cung trở thành Hỏa đái Thủy cung. Cho nên những sao Kim an tại Hỏa cung có Thủy Tuần án giữ thì lại trở từ hãm địa thành đắc địa.

Thí dụ 4: Khi sao Thổ an tại cung Hỏa, thì sao Thổ nầy là miếu địa. Nhưng khi có Thủy Tuần lâm Hỏa cung, thì Hỏa cung trở thành Hỏa đái Thủy cung. Cho nên những sao Kim như an tại cung Hỏa đái Thủy cung thì những sao Thổ nầy lại trở từ miếu địa thành bình hòa

Thí dụ 5: Người sinh giờ Tý tháng 2 năm 1969, Kỷ Dậu có bản mệnh là Thổ an tại cung Mão là cung Mộc. Đây là cách Mộc áp Lôi Kinh, rất là xấu. Cái hên của người nầy là năm Kỷ Dậu là năm trong từ năm Giáp Thìn đến Quý Sửu cho nên Tuần an tại cung Dần Mão mang ngũ hành là Hỏa. Sao Hỏa Tuần nầy hóa cung Mão thành Mộc đái Thổ, cho nên số người nầy không mang cái họa cách “Mộc áp lôi kinh”.

———————————-

HIỆU LỰC TUẦN,TRIỆT Ở TỬ VI DẨU SỐ


“Sự mạc minh ư hữu hiệu,Luận mạc dịnh ư hữu chứng”
(Sự việc không gì tỏ hơn là thí dụ. Biện luận không gì quyết định hơn là có chứng cứ)

Thế mà trong cac lọai sách viết về TỬ VI,chưa có thấy khẳng định rõ ràng khuôn phép cho 2 sao Tuần, Triệt. Vì thế bài viết này cũng là phiếm luận như những câu chuyen về huyền thọai phi tần mỹ nữ, vương tử hoàng tôn: “Cứ lượt qua mà giải trí, chẳng nên coi trọng gì để mất đi hoà khí khi bất đòng ý kiến.” OK.

Tuần là Tuần trung không vọng
Triệt là Triệt lộ không vong.

– Triệt như án tử hình,Tuần như vòng lao lý. Triệt phá quyết liệt, Tuần bũa nhốt vậy. Tại sao ??? Tạm lý sự cùn là các thầy xem năm tháng ngày giờ chỉ kiêng cử cái giờ Triẹt lộ không vong chứ nào để ý dến và xem cái Tuần không trung vong ra gì.

– Tại sao Triêt lộ không dám chiếm đóng ở Tuất Hợi (là ở phương Kiền, là phương Tây bắc, là phương có Địa võng) ??? Vậy là khi găp đại, tiểu hạn gì mà gặp Triệt là ta có thể yên chí dời giường ngũ của mình về phương Tây Bắc của nhà ở hoặc cắt hai tấc vuông (lương địa) lưới chài cá địa võng) loại đã cũ, đã dùng rồi bọc trong người là “trí định tâm an” Qua đó thì thầy Triệt cũng có chổ khăc chế, cũng có chổ trị được. Nói ngang nói ngược, vô sách vô sư giống như “Em về điểm phấn tô son lại” và “Em về rũ áo lau son phấn”. Thích cái nào thì xào cái ấy. Vậy thôi!

– Triệt, Tuần đồng cung thì dĩ nhiên tác dộng mạnh hơn là tách rời. Bè phái ma, tập đoàn ma.

– Triệt, Tuần là cái loại “tam vô”, là cái loại du thủ du thực, ai muốn chơi kiểu gì thì nó chơi theo kiểu đó, nó chỉ hành cho mình mất ngủ chứ nó chẳng cần “ngũ hành” gì cả.

– Tuần, Triệt tới cung nào là bất lợi cho cung đó. Nó là lọai “cõng rắn cắn gà nhà”

– Triệt, Tuần làm cho cung vô chính diệu vượng hưng lên vì bán nhà cho kẻ cướp còn hơn là để nhà hoang vô chủ.

– Tuần, Triệt làm đảo nghĩa các sao đồng cung: Vào nhà găp thằng xấu thằng hung thì nó phải thua và chịu phép, gặp kẻ hiền tốt thì phải sợ và nghe theo nó, cái này ví như “dương cực âm sinh, âm cực dương sinh” xâu xấu hoá tốt, xấu tốt lẫn lộn thì rõ ràng là gần mực thì đen vậy.

– Tuần, Triệt mà hội chiếu, xung chiếu, tam chiếu thì chẳng còn tác dụng gì bao nhiêu vì nó đang bận chém giết, bao vây bắt bớ rồi.

– Tuần, Triệt ở Thân, Mệnh có thể tốt, có thể xấu. Nên khi gặp quân hung ác thì “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Cho nên khi gặp trường hợp đó thì cuôc đời đừng nên vỗ ngực xưng danh đòi làm chủ nhân ông làm gì, cứ đứng ở hậu trường mà chỉ tay năm ngon như cụ Trạng Trình, cụ Nguyễn Thiếp, cụ Đào Duy Từ, cụ Ngô Đình Nhu là cũng tạm ổn một đời rồi.

– Giữa hai cung của Tuần, Triệt. Bên nào nặng, nhẹ ??? ToThiếnBut nà lỡ dang dến cái vận hạn “Cự, Đồng phùng La, Võng ngộ Khoa tịnh” nên nói toạt ra cho sướng cái mmiệg vậy. Hà cớ gì mà phải tâm thiên lương địa, phải nhị bát, phải tam thất, phải tuổi tác âm dương cho nó cực cái thân hơn. Cứ xem cái hạn của Cục, của Mệnh,c ủa Tuổi, của Sao hằng năm (như năm gặp sao Thái Bạch, Thái Dương, gặp Tam Tai..vv ..) nó nằm ở cung nào thì cung đó phải bị ảnh hưởng nhiều hơn vậy.

Những cái biết trong lúc “trà dư tửu hậu” đã tuông sém hết rồi. Còn lại cái thực là phải có cái chuẩn, phải có những câu “Phú” để “chứng cứ” thì mới đưa được cái đám Tuần, Triệt ra Pháp đình xử, chứ bèn không nó chối phăng phét, nó làm như là nó chưa có tiền án tiền sự gì thì làm sao mà mình kết án cho nó tâm phục khẩu phục.

MỘT SỐ CÂU PHÚ LUÂN BÀN VỀ HIỆU LỰC TRIỆT, TUẦN .


– Triệt Tuần đóng tại Ách cung, Rai nào cũng khỏi nạn nào cũng qua

– Tương quân ngọ Triệt trước miền, Ra đường gặp giặc mình liền tan thây

– Sát tinh hung dieu, Triệt đẩu cư lai, bất cập a hành, nan phùng tai ách vân lại (không e sợ lũ hung ác sát chi cả)

– Manh Triệt, Thân Tuần, tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đai.

– Manh Tuần, Thân Triệt hỉ đắc văn đoàn chi hội, phú quí văn tài cánh phát chung niên.

– Thiên phủ gặp Tuần là kho rỗng, gặp Không vong trở thành hung họa.

– Thiên phủ lâm Tuần, Triệt suy vì tiền tài.

– Phúc vô chính điệu tu cần Không tú Tuần) kỵ ngộ Triệt tinh.

– Âm, Dương, Tuần, Triệt tại tiền, Mẹ cha định đã chơi tiên thuở nào.

– Mệnh, Thân dù có lâm Không, Kiep, Gia Triệt, Tuần chẳng khiếp tai nguy.

– Triệt ,Tuần ngộ Mã, Hình Thê vị, Vợ bỏ chồng đào tỵ tha phương.

– Cung Huynh đệ Triệt, Tuần xung củng, Chim đâu đà bay bỗng xa chơi.

– Triệt, Tuần đóng tại cung Điền, Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho.

– Thê cung Tuần, Triệt khắc xung, Thiên hư bất chính cả hai vợ chồng.

– Mão, Thìn nhộ Triệt Tà dương, Phải phòng bếp núc trong nhà lôi thôi.

– Mệnh viên mà hội với Tuần, Lại thêm Hoá kỵ rõ ràng sứt môi.

– Tuần,Triet duong dâu thieu nien tân khổ .

– Tuần, Triệt cư Phụ mẫu xuất ngọai phương khả thành danh.

– Tuần, Triệt bất khả ngộ Lộc tồn, tư cơ phá hoại.

– Triệt, Tuần Diên, Mệnh cha truyền tay không.

– Thân hội Di cung, Triệt, Tuần hãm nhập,vãn tuế hồi hương phương túc cát, nhược hựu kiến sát tinh, sự nghiệp viên thành xứ ngoại.

– Thân cư Quan lộc hội sát diêu Triệt, Tuần nữ mệnh nạn bảo thanh danh.

– Thân cư Thê vị Tuần, Triệt lai xâm, Thiếu niên ai lệ nãi thất tình.

– Tử vi mà gặp không vong là đế ngộ hung đồ.

– Hình phùng Tuần, Triệt, phá khủng tao hoạn hoạ chi nhân.

– Hai tù tinh Liêm, Tham Tỵ Hợi, Ngộ Triệt, Tuần phản hữu kỳ công .

Triệt: hành Kim đới Thủy
Tuần: hành Hỏa đới Mộc

Ý nghĩa:

Triệt: là chém ra thành từng mảnh
Tuần: là vây hảm, có tác dụng kìm hãm, ngăn chặn, cản trở

Triệt Tuần ảnh hưởng lên các hành của sao:

Nói chung:

Hành Kim, Hỏa và Mộc: bị ảnh hưởng mạnh nhất
(Hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần,
Hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt)
Hành Thủy: bị ảnh hưởng ít hơn
Hành Thổ: bị ảnh hưởng yếu nhất

Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt theo thời gian:

Triệt mạnh ở 30 năm đầu (tùy theo cục, ví dụ Thủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó yếu đi
Tuần mạnh ở 30 năm sau (tùy theo cục), trước đó thì yếu

Cường độ ảnh hưởng của Triệt Tuần tác dụng lên các cung
Nguyên tắc: người Dương (Dương Nam, Dương Nữ) thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm
người Âm (Âm Nam, Âm Nữ) thì cung Âm chịu ảnh hưởng mạnh hơn cung Dương
Cứ thế ước lượng:
Dương Nam. Dương Nữ: cung Dương chịu 70% , cung Âm 30% cường độ ảnh hưởng
Âm Nam, Âm Nữ: cung Dương chịu 20%, cung Âm 80% cường độ ảnh hưởng

Ảnh hưởng:

Sao đắc vượng miếu gặp Tuần Triệt mất hết ý nghĩa tốt đẹp vì bị khắc chế
Sao hãm địa gặp Tuần Triệt thì lại trở thành tốt, là phản vi kỳ cách (nhưng phải trãi qua gian nan mới tốt được)
Đặc biệt: Thiên Tướng, Tướng Quân (dù đắc hay hãm) rất kỵ Tuần Triệt, kỵ Triệt hơn Tuần.
Thiên Phủ kỵ gặp Tuần
Cự Cơ (Cự Môn, Thiên Cơ) Tí Ngọ rất cần gặp Tuần Triệt
Nhật Nguyệt hãm địa gặp Tuần Triệt thì sáng lên, vượng miếu gặp Tuần Triệt thì tối lại

Tuần Triệt tác đong đến các cung:

ví dụ Tật Ách rất cần Tuần Triệt
Phúc cung vô chính diệu rất cần Tuần nhưng lại kỵ Triệt
Phu Thê gặp Tuần Triệt la trắc trở tình duyên.
Triệt đóng tại một cung có các sao xấu chiếu về cung đó thì có khả năng cản lại các nguy hiểm do các sao xấu chiếu về (Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng)

Vai ví dụ

Thiên Cơ (Mộc), Thiên Lương (Mộc) miếu địa rất kỵ Tuần Triệt nhưng nếu hãm địa thì rất cần Tuần Triệt.
Thái Âm sáng sủa gặp Tuần Triệt thì đỡ bị ảnh hưởng hơn so với Thái Dương sáng sủa
Sát Phá Tham hãm địa rất cần Tuần Triệt, đắc vượng miếu kỵ gặp Tuần Triệt, nhất là Sát và Tham (còn Phá Quân thì đỡ bị ảnh hưởng).
Liêm Tham Tỵ Hợi hãm địa thì gặp Tuần Triệt rất tốt
Thiên Đồng (Thủy) đắc vượng miếu cũng không sợ Tuần Triệt lắm, hãm thì lại cần Tuần Triệt
Vũ Khúc (Kim) đắc vượng miếu rất kỵ Tuần Triệt
Các sao Thổ như Tả Hửu, Thiên Quí, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Phúc, Thiên Qui, Tam Thai ít bị ảnh hưởng của Tuần Triệt nhất
Các sao Thủy như Hóa Khoa, Văn Xương, Hóa Kỵ, Long Trì, Song Hao, Hồng Loan, Bát Tọa ít chịu ảnh hưởng của Tuần Triệt
Các sao Mộc, Kim, Hỏa như Kình Đà, Không Kiếp, Hỏa Linh, Thiên Không, Thiên Hình, Kiếp Sat’ Tang Môn, Bạch hổ , Đào Hoa, Khôi Việt, Hóa Quyền Thiên Mã, Phượng Các, Ân Quang, Cô Quả, Thiên Quan chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Tuần Triệt
Ví dụ Mệnh Tử Vi Thiên Tướng cư Thìn (ở Dương cung) bị Tuần.
Ví dụ là Tuần nên ở 30 năm đầu chưa bị tai họa (tai nạn, bệnh tật…)
Thiên Tướng bị ảnh hưởng mạnh hơn Tử Vi

Dương Nam, Dương Nữ :
– Chịu 70% tác động của Tuần, do đó sau 30 tuổi dể bị tai họa lớn

Âm Nam, Âm Nữ:
– Chịu 20% tác động của Tuần nên sau 30 tuổi có gặp tai họa cũng không mạnh được (Chỉ nêu đại cương, còn phải xét Thân, Mệnh, Phúc, Tật và Đại hạn mới quyết định được)
Ví dụ Mệnh Liêm Tham cư Tý (cung Âm) là cách hình ngục nan đào gặp Triệt,
Vì là Triệt nên 30 năm đầu có tác động mạnh cho nên Cả hai sao đều bị ảnh hưởng mạnh của Triệt.

Dương Nam, Dương Nữ:
– Chịu 30 % tác động của Triệt. Sau 30 tuổi phải đề phòng tù tội

Âm Nam, Âm Nữ:
– Chịu 80 % tác động của Triệt nên không có gì xãy ra 30 năm đầu. Sau đó thì đề phòng nhưng mức độ tù tội nhẹ hơn
Ví dụ Thất Sát (Kim) cư Dần (Dương cung) gặp Tuần, Dương Nam thi chịu 70% ảnh hưởng, 30 năm đầu tuy có bị ảnh hưởng nhưng không đến nỗi nào, sau 30 năm thì bị tác động mãnh mẽ, bị tai nạn hoặc bị bệnh tâm thần…..

Tuần Triệt trong Tử Vi giống như hiện tượng những lỗ đen trong vũ trụ. Lỗ đen chính là những vùng tập trung năng lượng vật chất cực kỳ cao có lực hấp dẫn vô cùng lớn. Tất cả mọi năng lượng, ánh sáng của các sao hay vật thể bay qua, rơi vào lỗ đen đều bị hút chặt lại. Chính vì điều đó Tuần Triệt không phải là sao mà chỉ là vùng mà khi các sao sáng bay vào thì năng lượng tốt đẹp của chúng bị hút mất nên những đặc tính tốt bị kém đi, những sao mờ ám xấu xa, những hung tinh bay qua cũng mang theo những tính chất xấu, hung hoạ phá tán cũng bị hut mất những đặc tính này. Điều đó cho thấy những sao chính tinh miếu địa sáng sủa rơi vào cung có Tuần Triệt thì những tính chất tốt của sao miếu vượng cũng bị hút mất nhiều, nhưng không có nghĩa là thành xấu xa, những sao hung, sát tinh bị hút mất bớt những đặc tính xấu chứ không làm chúng trở thành như những sao sáng sủa được là vậy. Như vậy những sao phúc thiện tinh như Khôi Việt, Quan Phúc, Quang Quý gặp Tuần Triệt cũng bị triết giảm bớt những đặc tính tốt và sức phù trợ cứu giải nhưng không phải đổi tính chất của chúng.

Tuần Triệt gỡ nhau cũng như vậy, khi Mệnh có Tuần hay Triệt đi đến đại vận gặp Triệt hay Tuần thì lực hút của chúng ngược chiều nhau (Tuần an theo Địa chi, đi hết 12 cung vừa vặn 60 năm đúng một vòng Giáp Tý, Triệt an theo Thiên Can, thay đổi vị trí hàng năm trên Thiên bàn, 10 năm đi hết 1 vòng) gây nên trạng thái gần cân bằng tại cung Tuần Triệt ảnh hưởng, do vậy những đặc tính của các sao được phục hồi và năng lượng ảnh hưởng phục hồi tác dụng theo như tính chất cũ trong khoảng thời gian ảnh hưởng của đại vận, tiểu vận.

(1) Nhận định lại căn tính của Tuần Triệt

Tuần Triệt có phải là Sao (tinh đẩu) không ?
Nếu Tuần Triệt là tinh đẩu thì đương nhiên Tuần Triệt sẽ có khả năng chiếu như các tinh đẩu khác. Nếu TT không phải là tinh đẩu thì Tuần Triệt không có khả năng chiếu.

Nếu Tuần Triệt không chiếu thì lý thuyết Tuần Triệt gỡ từ đâu ra ??
Nếu Tuần Triệt đóng cùng vị trí mà tháo gỡ lẫn nhau thì các sát baị tinh khác đóng cùng vị trí cũng có đặc tính này ??

Theo như ks thì Tuần Triệt không phải là tinh đẩu mà là 1 cửa ngõ (noí theo như Thiên Tướng thì Tuần Trung và Triệt Lộ là khoảng không gian) co’ khả năng bao trùm trên 2 cung và thay đổi đặc tính của các sao toạ thủ trong 2 cung đó . Sự thay đôỉ hay caỉ hóa cuả Tuần Triệt trên các sao chỉ có tính cách tương đôí chứ không tuyệt đôí . Khả năng cuả Tuần Triệt không dừng ở các tinh đẩu mà còn ảnh hưởng trên Âm Dương Ngũ Hành cuả cung bị Tuần Triệt chận đóng.

Thí dụ: Tham Lang hãm điạ tại cung Tí ngộ Triệt sẽ bị cải hoa’ trở thành ngay thẳng chính chuyên chứ TT không co’ khả năng biến Tham Lang trở nên miếu điạ được . Trường hợp ngoại lệ của Tuần Triệt , có 1 số Sao không bị ảnh hưởng và bị caỉ hóa bởi Tuần Triệt , đó là các Phúc Thiện tinh Hoá Khoa, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang Thiên Quý,vv..vv

(2) Những yếu tố căn bản của cách thế Tuần Triệt gỡ

Mệnh có Tuần hay Triệt, Ðaị Hạn gặp Tuần Triệt thì được coi là cách Tuần Triệt gỡ. Thí dụ: Dương Nam, Mệnh ngộ Tuần, ÐH đến cung Quan có Triệt. Nếu là Âm Nam n hư thí dụ trên, ÐH đi ngược chiều kim đồng hồ không gặp Triệt thì không coi là cách Tuần Triệt gỡ, mặc dù Tuần Triệt ở thế Tam Hợp . Như đã nêu lên ở phiá trên, vì TT không phaỉ là Sao nên không chiêú, do đó không gỡ . Khi TT thaó gỡ thì không tháo gỡ luôn mà chỉ thaó gỡ trong khoảng thời gian hạn định, khoảng thơì gian này có thể là suốt Ðaị Hạn, hay là chỉ có 1 vaì năm hoặc là 1 vaì tháng trong năm .

Khi Tuần Triệt đóng vaò cùng 1 chỗ thì cường độ mạnh mẽ lên chứ không thaó gỡ , thủ tiêu (cancel) lẫn nhau; Ngoaị trừ trường hợp Tuần Triệt cố định gặp Lưu Tuần hay Lưu Triệt (sẽ bàn đến sau) … Trường hợp này thì có thaó gỡ nhưng không thaó gỡ hoàn toàn, có nghiã là chỉ thaó gỡ trong 1 khoảng khắc thơì gian ấn định chứ không thaó gỡ suốt vận hạn

(3) Không phaỉ lúc naò Tuần Triệt gỡ cũng tốt

Triệt được an theo Thiên Can (Dương), Tuần an theo Ðiạ Chi (Âm) nên Triệt sẽ có ảnh hưởng mạnh taị các cung Dương và yếu hơn taị các cung Âm; cũng thế Tuần sẽ tác động mạnh taị các cung Âm, và yếu hơn ở các cung Dưong . Theo cùng 1 chiều hướng lập luận đó, khi Tuần Triệt thaó gỡ thì : 2 cung ngộ Triệt sẽ được gỡ mạnh taị cung Dưong và gỡ yếu hơn taị cung Âm; còn 2 cung ngộ Tuần thì cung Âm sẽ được gỡ mạnh hơn taị cung Dương . Ðiều quan trọng là cần phaỉ minh xét cẩn thận các tinh đẩu thủ cung để xem Tuần Triệt gỡ là gỡ tốt hay là gỡ xấu

Lá số mẫu chia sẻ vơí các bạn, lá số này có cách Tuần Triệt gỡ mà mất mạng .

* Am Nam, 12 tháng 7 Ðinh Dậu (1957) giờ Mão

Mệnh ngộ Tuần có Thiên Tướng đắc Tứ Linh, Khôi Việt Quang Quý, Hổ Ðà Tuyệt (cách Tuyệt xứ phùng sinh) . Ðaị Hạn 36-45 tại cung Tử ngộ Triệt, Tuần Triệt gỡ, đến năm 1996 (Bính Tí chu Tuần Giáp Tuất) tận chung vì Ðaị Hạn có Hà Sát, Không Kiếp, Thiên Không , Lưu Tang Lưu Hổ, Lưu Hư Lưu Khốc; Còn Tiểu Hạn thì trong thế tam hợp ngộ Thiên Không Ðiạ Kiếp, Lưu Hư Lưu Khốc, Lưu Kình Lưu Ðà …. Số tận đang khi vận phát

Tuần và Triệt thực tế ra không phải là hai sao trong Tử Vi nhưng thường được gọi là hai sao cho giản tiện. Trường hợp này cũng giống như vòng Tràng Sinh hay được gọi là sao vậy

Ngũ hành của Tuần Triệt

Triệt thì hành Kim (đới Thủy), còn Tuần thì hành Hỏa (đới Mộc)

Ý nghĩa

Triệt là chém ra thành từng mảnh
Tuần là vây hãm, có tác dụng làm kìm hãm, ngăn chận, cản trở

Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triêt nói chung

Triệt tại cung Kim, Tuần tại cung Mộc và Hỏa thì có tác động mạnh hơn các nơi khác

Tỷ lệ ảnh hưởng của Tuần Triệt trên các cung

Tuần Triệt thì luôn luôn án ngữ hai cung và có cường độ ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theo nguyên tắc ước lượng như sau:

Người Dương (Dương Nam, Dương Nữ) thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm, cụ thể cung Dương chịu 70%, cung Âm chịu 30% cường độ

Người Âm (Âm Nam, Âm Nữ) thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượng cung Âm chịu 80%, cung Dương chịu 20%

Khi bị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nói bị chận đuôi

Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt theo thời gian:

Triệt ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt (như Thủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì là không có

Tuần thì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng mạnh sau đó

Hai yếu tố trên rất quan trọng nhưng thường bị coi thường khi coi về Tuần Triệt, nhất là khi coi đại hạn. Cường độ ảnh hưởng từ yếu đến mạnh tạm được sắp xếp theo thời gian như sau:

Dưới khoảng 30 tuổi

Tuần chặn đuôi
Tuần đương đầu
Triệt chặn đuôi
Triệt đương đầu
Trên khoảng 30 tuổi
Triệt chặn đuôi
Triệt đương đầu
Tuần chặn đuôi
Tuần đương đầu

Trong từng trường hợp trên thì cũng có diễn biến động của riêng nó, bởi vì quá trình thay đổi của Tuần Triệt là quá trình biến đổi, Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảm xuống. Như vậy trong trường hợp tuần chặn đuôi thì sẽ nhẹ nhất vào lúc 1 tuổi và mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi. Nhận định này nên được bổ xung chú ý khi coi đại hạn

Tuần Triệt là hai sao có rất nhiều ảnh hưởng được liệt kê dưới đây, có thể sự phân tích có những trùng lập nhưng để làm sáng tỏ vấn đề Tuần Triệt hơn

Ảnh hưởng của Tuần Triệt lên các cung:

Thông thường thì đóng tại cung nào thì Tuần Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bất kể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô Chánh Diệu trong trường hợp khống có hung tinh đắc địa hoặc tại Tật Ách thì hợp. Đây là điểm quan trọng bởi vì chưa cần coi các sao trong cung, người ta đã có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống vì thông thường Tuần Triệt đóng tại 4 cung trong tổng số 12 cung

Tuần Triệt đương đầu tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan (nhưng nếu gặp chính tinh lạc hãm thì đỡ hơn), tại Thân thì khi lập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu. Nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnh đồng cung gặp Tuần Triệt đương đầu thì coi như nếu có sự nghiệp trước 30 tuổi thì phải bị gãy đổ rồi bắt lại từ đầu trong giai đoạn lập thân

Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường nghề nghiệp như lận đận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng. Tùy theo bị chặn đuôi hoặc đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay không. Vì quan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệt giữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận

Tuần Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không, trừ khi vào đại vận tốt, và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Tạo lập điền sản rất quan trọng trong giai đoạn lập thân nên, do đó gặp Tuần thì nên chú ý. Dù gì đi chăng nũa mà bị Tuần Triệt thì hầu như khó giàu có lớn được trừ trường hợp VCD đúng cách (ví dụ có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu)

Tuần Triệt đóng tại cung Thiên Di thì ra ngoài không lợi, ly hương thì tốt hơn

Tuần Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹ để lại, phải tự lập và thường bị gặp trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Tạo lập điền sản rất quan trọng trong giai đoạn lập thân nên, do đó gặp Tuần thì nên chú ý. Dù gì đi chăng nũa mà bị Tuần Triệt thì hầu như khó giàu có lớn được trừ trường hợp VCD đúng cách (có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu)

Tuần Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gần nhau, thường phải ly hương

Tuần Triệt đóng tại cung Phối thì gây trục trặc cho tình duyên hôn nhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ, lập gia đình sớm thì gia đạo bất hòa dễ trục trặc dễ đưa đến chia ly, hoặc là yếu tố đưa đến không chồng không vợ. Cung Phối xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn Triệt vì gặp Tuần thì về sau gia đạo dễ hạnh phúc hơn Triệt. Cung Phối đẹp đẽ gặp Triệt thì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống với nhau được…

Tuần Triệt đóng tại cung Nô thì bạn bè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền

Tuần Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho vấn đề con cái như không con, muộn có con, sinh con đầu lòng khó nuôi, con không hợp với cha mẹ

Tuần Triệt đóng tại cung Bào thì anh chị trưởng dễ chết sớm hoặc cùng khổ cô đơn, hoặc không gần nhau, hoặc dễ không hòa thuận

Tuần Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chăn đuôi thì suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít tai họa, tránh được tai họa trừ khi có sao kỵ Tuần Triệt như Thiên Tướng Tướng Quân thì nếu tai họa quá lớn thì lại đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng

Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì ly hương mới dễ làm nên hơn là ở gần cha mẹ, không hợp với cha hay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ. Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạn thiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽ

Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần xét kỹ thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng

Trường hợp Tuần Triệt đồng cung thì ảnh hưởng coi như ảnh hưởng liên tục. Như vậy nếu Tuần Triệt đồng cung tại Phối Tử thì là một bất hạnh trong cuộc sống gia đình, tại Điền Quan thì sự gây dựng sự nghiệp khó khăn, tại Phụ Phúc thì số tự lập, ly hương, bạc phúc…

Ảnh hưởng của Tuần Triệt đối với hành của sao

Sử dụng sự sinh khắc ngũ hành giữa hành của Tuần Triệt với hành sao tọa thủ, lấy hành của Tuần Triệt làm chủ, ta có thể nói rằng:

Nhìn chung thì hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặng nhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần (vì Triệt Kim khắc Mộc trong khi đó Mộc sinh Tuần Hỏa) và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt (vì Tuần Hỏa khắc Kim trong khi đó Triệt Kim và Kim đồng hành), hành Thủy ít bị ảnh hưởng hơn (vì Triệt Kim sinh Thủy và Thủy khắc Hỏa Tuần), hành Thổ bị ảnh hưởng ít nhất (vì Tuần Hỏa sinh Thổ và Thổ sinh Triệt Kim)

Như vậy nếu chỉ xét về phương diện ngũ hành thì các sao Thổ nhu Ta Huu, Thien Qui, Loc Ton, Hoa Loc, Thien Phuc, Thien Qui, Tam Thai it bi anh huong cua Tuan Triet nhat, cac sao Thuy nhu Hoa Khoa, Van Xuong, Hoa Ky, Long Tri, Song Hao, Hong Loan, Bat Toa it chiu anh huong cua Tuan Triet, cac sao Moc, Kim, Hoa nhu Kinh Da, Khong Kiep, Hoa Linh, Thien Khong, Thien Hinh, Kiep Sat, Tang Mon, Bach Ho, Dao Hoa, Khoi Viet, Hoa Quyen Thien Ma, Phuong Cac, An Quang, Co Qua, Thien Quan chiu anh huong manh me cua Tuan Triet

Ảnh hưởng của Tuần Triệt đối với các loại tinh đẩu:

Đối với chính tinh thì bị ảnh hưởng mạnh hơn phụ tinh (phàm cái gì càng mạnh mẽ thì càng bị ảnh hưởng của Tuần Triệt), trong đó Sát Phá Liêm Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất

Về tính chất thì hung sát bại tinh (như Sát Phá Liêm Tham, Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát…), tài tinh (Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc), quí tinh, quyền tinh (Thiên Tướng, Hóa Quyền, Quốc Ấn…), đào hoa tinh hay dâm tinh (Hồng Đào Riêu Thai…) bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh (Quang Quí, Quan Phúc…), trợ tinh (Tả Hữu)…lục bại tinh (Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư)

Tuần Triệt không làm thay đổi tính chất của hung tinh, cát tinh như biến hung tinh thành cát tinh, biến các tinh thành hung tinh mà thực chất thay đổi cường độ hành khí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm

Các trường hợp đặc biệt cần lưu ý:

Thiên Tướng, Tướng Quân tối kỵ gặp Tuần hay Triệt cho dù là đắc hay hãm. Thiên Khôi kỵ Triệt hơn Tuần nhưng cần phối hợp các yếu tố khác khi luận đoán tốt xấu

Nhật Nguyệt đắc hãm gặp Tuần Triệt thì sáng lên, gặp Tuần hay hơn Triệt.

Nhật Nguyệt miếu vượng gặp Tuần Triệt thì tối lại

Cự Cơ Tí Ngọ rất cần Tuần Triệt

Thiên Phủ kỵ Tuần hơn Triệt, gặp Tuần ví như kho trống không, trong khi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt

Ảnh hưởng của Tuần Triệt đến vấn đề miếu hãm

Sao đắc vượng miếu gặp Tuần Triệt thì giảm hoặc mất hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm

Sao hãm địa gặp Tuần Triệt thì lại bớt xấu đi, hoặc trở thành tốt, là phản vi kỳ cách (đặc biệt cho Sát Phá Liêm Tham hãm địa) nhưng phải trải qua gian nan mới tốt được

Chú ý rằng quá trình thay đổi ảnh hưởng từ xấu qua tốt hoặc ngược lại là quá trình chuyển biến nên một sao cho dù sáng lại do ảnh hưởng của Tuần Triệt cũng không toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một sao bị tối đi do ảnh hưởng của Tuần Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chất là tối hãm.

Ảnh hưởng đến các cung tam hợp xung chiếu

Tuần Triệt chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến cung tam hợp xung chiếu. Sao tại cung bị Tuần Triệt án ngữ bị thay đổi tính chất nên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần Triệt. Cách VCD có Tuần Triệt chiếu thiết tưởng chỉ là để nói có Tuần Triệt tại các cung tam hợp xung chiếu mà thôi)

Triệt có tác động cản trở tất cả các hung tinh chiếu về bản cung, không sợ nguy hiểm do các sao này gây ra (Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng). Tuần thì cản không được mạnh nên vẫn còn bị nguy hiểm phần nào

Tại bản cung có chính phụ tinh hãm địa nếu bị Triệt án thì cũng không đáng lo ngại vì họa hại do chính phụ tinh hãm địa gây ra. Nếu chính phụ tinh sáng sủa thì tùy trường hợp mà luận đoán sử dụng các nguyên tắc coi trên
Tuần Triệt tại cung Vô Chính Diệu (coi phần Vô Chính Diệu)

Tuần Triệt tháo gở

Đây là quan điểm do cụ Thiên Lương đưa ra. Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo gở ảnh hưởng của Tuần hay Triệt
Tuần Triệt gặp sao Lưu

Tuần Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Tuần Triệt đồng cung sẽ giảm đi

Triệt tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Triệt tăng lên

Tuần tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Tuần giảm đi

Tóm lại, ngoại trừ trường hợp ngoại lệ, mọi tinh đẩu đắc vượng miếu không nên bị Tuần Triệt án ngữ, tinh đẩu hãm địa rất cần Tuần Triệt cứu giải cái xấu. Khi bị Tuần Triệt án ngữ cần chú ý là bị Tuần Triệt đương đầu hay chặn đuôi và để ý thời gian.

Khi chính tinh sáng sủa hợp Mệnh (như sao sinh Mệnh hay đồng hành) thì không nên bị Tuần Triệt đưa đến phá cách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần Triệt thì càng xấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần Triệt phá hỏng. Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần Triệt cũng đỡ xấu hơn trường hợp trên

Khi chính tinh lạc hãm khắc Mệnh thì cần được Tuần Triệt án ngữ, trường hợp này lại hay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần Triệt. Nói chung là nếu càng xấu về vị trí ( bị hãm) và tương quan ngũ hành (bị khắc) thì gặp Tuần Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan ngũ hành thì gặp Tuần Triệt càng xấu. Một số người đã diễn tả điều này bằng cách nói Tuần Triệt thay đổi ngũ hành của cung

Vài ví dụ phân tích

Thiên Cơ (Mộc), Thiên Lương (Mộc) miếu địa rất kỵ Tuần Triệt (vì hành Mộc) nhưng là phúc tinh nên cũng đỡ lo ngại, kỵ Triệt hơn Tuần.Trẻ tuổi gặp Tuần chặn đuôi thì cũng khá tốt

Thiên Cơ (Mộc), Thiên Lương (Mộc) nếu hãm địa thì rất cần Tuần Triệt.

Thai Ám sáng sủa gặp Tuần Triệt thì đỡ bị ảnh hưởng hơn so với Thái Dương sáng sủa do hành Thủy

Sát Phá Liêm Tham hãm địa rất cần Tuần Triệt (vì hành là Kim, Hỏa, Mộc và là hung sát tinh)

Sát Phá Liêm Tham đắc vượng miếu kỵ gặp Tuần Triệt vì là hung tinh hành Kim Hỏa Mộc, nhất la Sát và Tham (còn Phá Quân thì đỡ bị ảnh hưởng).

Liêm Tham Tỵ Hợi hãm đia thì gap Tuần Triệt rất tốt, giảm thiểu nhiều tai họa tù tội

Thiên Đồng (Thủy) đắc vượng miếu cung không sợ Tuần Triệt lắm vì là phúc tinh hành thủy, hãm thì lại cần Tuần Triệt
Vũ Khúc (Kim) đắc vượng miếu kỵ Tuần Triệt vì là tài tinh hành Kim

Không Kiếp Tang Hổ đắc thì không nên gặp Tuần Triệt vì là hung tinh đắc đia hành Hỏa, Kim, Mộc mất hết ảnh hưởng hay đẹp

Ví dụ:
Mệnh Tủ Vi Thiên Tướng cư Thìn (ở Dương cung) bị Tuần. Thiên Tướng bị ảnh huỏng mạnh hơn Tử Vi vì là hành Thủy và do bản chất kỵ Tuần Triệt của nó. Vì là Tuần nên 30 năm đầu chưa bị tai họa (tai nan, benh tat…) vì ảnh hưởng Tuần chưa mạnh. Dương Nam, Dương Nữ thì bị Tuần đương đầu, do đó sau 30 tuổi dễ bị tai họa lớn. Âm Nam Âm Nữ thì bị Tuần chặn đuôi nên sau 30 tuổi có gặp tai họa cũng không mạnh được. Mệnh Thổ (ăn sao Tử Vi, khắc sao Thiên Tướng) đỡ bị ảnh hưởng xấu hơn (Tử Vi gặp Tuần không đáng sợ bằng Thiên Tướng) Mệnh Thủy (ăn sao Thiên Tướng mà Tướng lại sáng sủa, khắc sao Tử Vi) (chỉ nêu đại cương khả năng xảy ra, còn cần xét trong bối cảnh Mệnh Thân Phúc Đại Hạn mới quyết định được) ; ;

Ví dụ:
Mệnh Liêm Tham cư Tỵ (cung Am) la cach hinh nguc nan đào gap Triet. Vi la Triet nen 30 nam dau co tac dong manh. Ca hai sao deu bị ảnh huởng mạnh của Triệt vì là hung tinh hành Hỏa và Mộc. Duong Nam, Duong Nu thì chiu 30 % tac dong cua Triet, sau 30 tuoi phai de phong tu toi. Am Nam, Am Nu chiu 80 % tac dong cua Triet nen khong co gi xay ra 30 nam dau. Sau do thi de phong nhung muc do tu toi nhe hon

Vi du:
Thât Sat (Kim) cu Dan (Duong cung) mạng Kim gap Tuan, Duong Nam thi chiu 70% anh huong, 30 nam dau tuy co bi anh huong nhung khong den noi nao, sau 30 nam thi bi tac dong manh me nen bi tai nan hoac bi benh nhu bệnh tam than

Cự Cơ Mão Dậu gặp Song Hao thì là phú cách nhưng gặp Tuần Triệt thì lại là phá cách

Trích một vài đoạn trong Thần Khê Định Số của cụ Lê Quý Đôn


Về Cuốn Thần Khê Định Số của cụ Lê Qúy Đôn


Đại Hạn Trong Tử Vi

1. Gốc đại hạn trong tử vi 

Yếu tố làm cho các tiểu hạn trung nhau thành ra khác biệt nhiều là do gốc đại hạn thay đổi, vì khi đoán tiểu hạn điều tiên quyết là phải xét đến đại hạn lúc đó được coi như là một cung Mệnh thứ hai di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn, nhưng ta vẫn không thể quên lãng cung Mệnh khi giải đoán. Để cho được linh động và bớt khô khan tôi tránh việc nêu ra các nguyên tắc và chỉ nêu ra dưới đây nhiều thí dụ điển hình:

TÌM HIỂU VỀ CÔ THẦN, QUẢ TÚ Ở 12 CUNG

HAI SAO CÔ THẦN, QUẢ TÚ

Cô Quả tại Mệnh, Thân

Bình thường nếu hai sao này chiếu Mệnh Thân thì đúng như các sách tử-vi đã ghi, nghĩa là chủ về cơ đơn, khắt khe, lạnh lùng, kỹ lưỡng, câu nệ, đa nghi…Nhiều người còn phân biệt “nam Cô, nữ Quả” cho rằng đàn ông kỵ Cô Thần, đàn bà kị Quả Tú tại Mệnh, nhưng rồi nghiệm thấy rằng vì hai sao này bao giờ cũng chiếu nhau cho nên Mệnh Thân nếu có bất luận sao nào cũng bị ảnh hưởng theo những nghĩa trên đây, chỉ có khác vấn đề nặng hay nhẹ mà thôi. Tôi chưa thấy một người đàn bà nào mạng có Cô Thần mà sung sướng về tình cảm, hôn nhân, hoặc một người đàn ông nào có Quả Tú mà thoải mái về hạnh phúc vợ chồng (trừ trường hợp đặc biệt dưới đây), đấy là chưa kể tới trường hợp gặp thêm sao Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn là những sao cũng chủ về cô đơn. Chỉ có một sự khác biệt nhỏ là nếu gặp đúng sao kỵ mình thì thời gian trắc trở hoặc xa cách dài hơn, hoặc đau thương hơn. Ngoài ra tôi cần nói thêm rằng khi Mệnh Thân đã có một trong hai sao này thì đừng ham có sao Đào Hoa đồng cung để chế hóa bớt. Vì như thế còn tăng thêm sự khó khăn về tình yêu , hôn phối (Cô Quả thuộc Hành Thổ- có sách nói thuộc Hỏa – không hợp với Đào Hoa thuộc Mộc, và nếu Cô Quả là Hỏa chăng nữa cũng không tốt, vì Đào Hoa là Mộc sinh Hỏa thì lại càng tăng thêm sự cô đơn hơn nữa) hãy mong Đào Hoa ở cung khác để vớt vát được phần nào lãnh vực tình cảm (như ở Thiên Di chẳng hạn). Nếu trường hợp trên có thêm Hóa Kỵ đồng cung nữa thì thực là bất hạnh vì sẽ trở thành người đồng tính luyến ái…
Như vậy chắc là hai sao Cô Quả chiếu mạng, Thân toàn là xấu chăng? Tôi xin thưa ngay là không. Nếu quý bạn gặp trường hợp Cô Quả hội đủ bộ sao tốt, quyền quí như bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Quang Quý, Long Phượng, Khôi Việt, Khoa, Quyền, Lộc… thì phải nói rằng Cô Quả đã đứng đúng chỗ, đã có môi trường làm cho công danh của mình lên cao mạnh mẽ. Đó là cách vua chúa, lãnh tụ, chỉ huy (vua chúa ngày xưa, nhất là trong các truyện Tàu, thường tự xưng là cô- gia hoặc quả-nhân), nhưng có điều là độc tài thái quá vì hai sao Cô Quả lúc đó chủ về “duy ngã độc tôn” rồi. Còn vấn đề cô đơn thì gần như không có xẩy ra, vì Cô Quả đã có môi trường khác (vua chúa ngày xưa có bao nhiêu cung tần mỹ nữ không có lẽ còn bị cô đơn).
tử vi thiên lương 

Cô Quả tại Phụ Mẫu

Nhiều vị đoán tử vi cho rằng hai sao này khi ở cung Phụ Mẫu có nghĩa là cha mẹ ít khi sống gần nhau hoặc dễ bị ly di, nhưng theo kinh nghiệm riêng tôi nhận thấy trường hợp cung Phụ Mẫu có Cô Quả thường chủ về:
- Cha hoặc mẹ ít anh em trai (không kể gái), nhất là khi có thêm Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn đồng cung. Nếu có Thái Dương đồng cung thì chắc chắc cha ít anh em trai, nếu có Thái Âm thì chính mẹ ít anh em trai :
- Cha hoặc mẹ là con trưởng trong gia đình, trong trường hợp có nhiều em trai, nhất là khi có Tử-Vi hoặc Thiên Phủ hội Hóa Quyền hoặc Khôi Việt đồng cung. Về điểm muốn phân biệt cha hoặc mẹ thì có vị cho rằng khi Tử-Vi hoặc Thiên Phủ cư cung Dương thì cha là con trưởng, còn cư cung Âm là mẹ. Tuy nhiên điểm này tôi nghiệm thấy không đúng mấy. Chỉ dễ đoán khi có Nhật hay Nguyệt. Nếu 4 sao trên đều không có thì hơi bí.
Trường hợp cả hai điểm trên đây đều không ứng nghiệm, thì đành phải đoán rằng lúc đương số ra chào đời, cha mẹ bị tang tóc hoặc xa cách nhau một thời gian ngắn, nhất là có Thiên Mã ngộ Tuần Triệt. Nếu có Thái Dương thì cha đi xa hay có tang, nếu có Thái Âm thì chính là mẹ. Còn Nhật Nguyệt đồng cung thì tùy theo sinh ngày hay đêm, nhưng trường hợp này lại không bao giờ có Thiên Mã vì Mã chỉ cư Dần Thân, Tỵ, Hợi chứ không cư Sửu Mùi được.


Cô Quả tại Phúc Đức

Về cung này, các sách đều nói là trong giòng họ hiếm người nhưng tôi nghiệm thấy nhiều trường hợp không phải hiếm người, mà thực ra vì dòng họ phân tán đi các nơi nên mới hiếm, hoặc là có trường hợp không phân tán thì mạnh ai người ấy sống, chẳng ai giúp ai được việc gì, anh em “kiến giải nhất phận”. Ngoài ra, tôi cần nói thêm rằng nếu có thêm Đào Hồng, Nhật Nguyệt hội chiếu thì phải đoán rằng trong dòng họ có nhiều đàn bà hiếm con trai, hoặc sống trong cảnh góa bụa, độc thân suốt đời. Tôi chưa nghiệm được sao gì thì chủ về đàn ông trong giòng họ bị như vậy, tuy có vị cho rằng khi có Nam Đẩu Tinh (chính tinh) thì chủ về đàn ông, nhưng nhiều khi sai.
Cũng vì 2 sao này có ý nghĩa nêu trên, cho nên khi cung Phúc Đức của mình nếu có Cô Quả thì tuyệt đối mình không nên sống chung đụng với họ hàng, kể cả anh em ruột thịt để tránh sự hiềm khích, va chạm có thể đi tới chỗ tuyệt tình. Ở xa thì 2 sao này đã có môi trường hoạt động nên trong giòng họ có thể thuận hòa với nhau được, tuy không ai hết lòng với ai.


Cô Quả tại Điền Trạch

Thường thường trong các sách tôi đã có dịp đọc, tôi nhận thấy sách nào cũng chỉ nói rằng: Cô Quả rất lợi ích cho cung Điền và Tài (Cô Quả yếu thủ Điền Tài) mà thôi, nhưng tôi cho rằng cần phải phân biệt như sau để biết lợi hại ra sao:
- Nếu Cô Quả hội với nhiều sao tốt như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Hóa Quyền, Long Phượng, Thai Tọa, Khôi Việt, Đào Hồng (nhưng cần Mệnh là Hỏa hoặc Thổ mới tốt) thì có nghĩa là mình có biệt thự khang trang, nguy nga, đồ sộ, có vườn cây xung quanh, ở nơi thanh tịnh, biệt lập, vì Cô Quả lúc đó ứng vào cô-gia, và vẫn có nghĩa giữ vững được nhà cửa lâu dài. Như thế mới thực là tốt đẹp. Cũng có khi ứng vào việc mua bán nhà với một người góa, hoặc được thừa hưởng tài sản nhà cửa của chú bác, cô dì không có con thừa tự (với điều kiện cung Điền có chính tinh tốt và hợp mệnh, đồng thời không bị Tuần Triệt án ngữ).
- Còn trường hợp Cô Quả hội với các sao xấu, hãm địa, khắc Mệnh và cung Mệnh Thân, Tài Quan cũng không được tốt thì thực là bất hạnh, nghĩa là mình phải ở một căn nhà lụp xụp, vừa ở nơi hẻo lánh, xa xôi (vùng ngoại ô chẳng hạn), mà lại không bao giờ bán đi được, như thế chứng tỏ là mình nghèo hèn suốt đời. Vì vậy đừng có thấy Cô Quả cư Điền đã vội mừng.

Tử vi thiên lương

Cô Quả tại Quan Lộc

Tôi không thấy trong các sách Tử-vi nói đến Cô-Quả ở cung Quan-Lộc một cách rõ rệt, do đó tôi lấy kinh nghiệm riêng mà bàn với quý bạn như sau:
- Bình thường Cô Quả ở cung Quan chủ về soi mình làm việc không có những người đồng liêu hoặc đồng nghiệp, đồng chí hướng với mình, mà đa số đều ích kỷ, hay giấu nghề, giấu việc. Nếu không thì chính những người trên của mình đều khắt khe, tỉ mỉ quá làm cho mình mất hết tự do, sáng kiến. (gặp trường hợp này mà xin thăng cấp, tăng lương chắc là hơi khó và hơi lâu).
- Bù lại, nếu Cô Quả gặp các sao quyền quý như Khoa Quyền Lộc, Tướng Ấn, Long Phượng, Quang Quý, Thai Tọa, Khôi Việt, Tả Hữu… thì lại rất tốt, như thế có nghĩa là mình làm chức lớn ngồi riêng một văn phòng đẹp đẽ, khang trang. (như bây giờ có máy lạnh là cái chắc), không phải ngồi chung với nhân viên, có điều gì cần là bấm chuông gọi.


Cô Quả tại Nô Bộc

Thường thường cung Nô Bộc nếu có bộ sao Cô Quả chiếu được giải đoán như sau:
- Nếu không hội với nhiều sao tốt, mình nên dùng những người dưới quyền góa bụa, độc thân, thì họ trung thành hơn. Nhất là trường hợp có thêm Thiên Hình, Đẩu Quân thì lại càng chắc chắn hơn nữa, nhưng những người này cần phỉa có mang tật gì ở thân thể (như vết thẹo ở mặt, chân, tây, mắt lé, thọt chân…) thì họ sẽ trở thành những người dưới quyền có lương tâm, làm ăn cẩn thận.
- Nếu hội với nhiều sao tốt, nhất là có thêm Hóa Quyền, thì người dưới tay, hay âm mưu phản phúc, lấn quyền một cách khéo léo, gián tiếp (vì lúc đó Cô Quả chủ về thâm trầm, ích kỷ, kín đáo…)
- Nếu hội với Nhật Nguyệt, lúc mình sa cơ thất thế, chẳng có đàn em nào giúp đỡ, đoái hoài tới, nhất là có thêm Hóa kỵ mà không có sao nhân hậu hội chiếu như Thai Tọa, Tả Hữu, Quan Phúc.


Cô Quả tại Thiên Di

Thường thường những người có địa vị cao trong xã hội ít khi có sao Cô Quả chiếu Thiên Di, vì những sao này chủ về vấn đề ít giao thiệp, ít người cộng tác, hoặc cùng nữa là chính mình không ưa giao thiệp rộng một điều trái ngược với cách làm lớn. Ngoài ra, về phương diện tình cảm, nếu Cô Quả chiếu Thiên Di lại hội với Đào Hoa, Hóa Kỵ thì hết hy vọng chinh phục được những người khác phái, dù cho mình đẹp trai hoặc có nhan sắc diễm lệ (đối với nữ) chăng nữa. Tôi đã từng được coi những người mệnh có nhiều sao thu hút được người khác phái (như Tham Lang, Đào Hồng Hỷ, Quang, Quý, Thanh Long….) mà lúc nào cũng bị thất bại trong vấn đề chinh phục người yêu, chỉ vì cung Thiên Di có Cô Quả (I) có chàng chinh phục được thì lại bị người yêu bỏ đi lấy chồng, vì gia đình bắt buộc, có nàng làm cho ý trung nhân say mê mình được thì đùng một cái bị một cô khác đẹp hơn cướp mất chồng tương lai của mình…, Vì vậy thanh thiếu nên nam nữ bây giờ nếu muốn có tài “thu hút” ở ngoài xã hội thì phải tránh được hai sao Cô Quả chiếu Thiên Di. Thà rằng hai sao này chiếu Mệnh còn đỡ hơn, vì như thế mình chỉ cô đơn khi ở nhà, còn khi bước chân ra ngoài là “hấp dẫn” (Nếu Thiên Di có Đào Hoa chẳng hạn).


Cô Quả tại Giải Ách

Vì Cô Quả là các sao tiết chế, giới hạn nên khi chiếu cung Giải Ách lại thành ra hay, có nghĩa là mình ít bệnh tật, tai nạn, nhất là khi hội với Thiên Không lại càng tốt thêm nữa. Tuy nhiên, vì hai sao này vẫn có tính cách, duy trì, gìn giữ nên mình vẫn dễ bị những bệnh tuy không hiểm nghèo nhưng triền miên suốt đời mà người ngoài không nhận thấy. Thí dụ như hội với Hóa Kỵ (tượng trưng cho bộ tiêu hóa, ruột) lại thêm Song Hao thì nhất định phải đeo bịnh đau bụng, khó tiêu, no hơi lu bù, vì Cô Quả dù là Hỏa hay Thổ cũng đều không hợp với Hóa Kỵ, là thủy và Song Hao nếu có là thủy chăng nữa vẫn không hợp với Cô Quả là Thổ ( thường thường ta đều cho rằng Song Hao thuộc Hỏa, và nếu như vậy còn hùa với Cô Quả khác Hóa Kỵ nữa). Ngoài những điểm trên, Cô Quả chiếu Giải Ách còn chủ về vấn đề ưu tư trong thâm tâm, những nỗi buồn xa xôi mà chỉ có tiềm thức của mình mới nhận thấy, và nhiều khi mình lại khó khăn với chính mình.


Cô Quả tại Tài Bạch

Trong khi Hóa Khoa được tôn là đệ nhất giải thần, thì Cô Quả được tôn là thần giữ của, cho nên ở cung Tài Bạch là hợp. Đó là một nhân định chủ quan quá, vì tôi đã nghiệm thấy những người muốn buôn to bán lớn cần phải có sự hùn hạp, cộng tác với người khác về tiền tài nếu có Cô Quả thì cứ khư khư giữ tiền làm sao có thể khuếch trương lớn, như vậy chỉ có thể giới hạn trong một tiệm buôn nhỏ hoặc một lãnh vực thu hẹp mà thôi. Nếu may ra có Phá Quân (cư Tý Ngọ mới tốt) hoặc Song Hao hội chiếu lại rất hay, vì như thế mỗi khi mình muốn tung tiền ra kinh doanh, bao giờ cũng chắc ăn, thận trọng nhờ sao Cô Quả.
Tuy nhiên, đối với những người không có óc thương mại, nếu Cô Quả lại hội với Thiên Phủ, Vũ Khúc ( đều tượng trưng cho kho chứa). Tướng Ấn, Tả Hữu, Thai Tọa… thì lại chủ về những người chuyên về giữ tiền bạc, tài chánh (nếu có thêm Song Lộc và một số cách tốt nữa có thể làm chủ ngân hàng). Nếu quý bạn làm giám đốc xí nghiệp, học cơ quan nào, nên giao cho những người có cách này giữ két bạc thì chẳng sợ thất thóat, sai lầm với điều kiện đừng có Hỏa Linh, Không Kiếp đi với Tham Lang chiếu cung Tài Bạch của những người đó.


Cô Quả tại Tử Tức

Chiếu cung Tử Tức ,Cô Quả thường chủ về một trong những điểm như sau ( ít khi ứng nghiệm cùng một lượt) :
- Con cái lúc mới sinh, nhất là đối với đứa đầu lòng, hay bị bịnh tật, tai nạn làm cho cha mẹ phải vất vả, lo âu. Nhưng khi lớn lên thì vẫn dễ nuôi nếu không có thêm hung sát tinh. Về điểm này có câu phú “Cô thần, Quả tú hai sao, gian truân vất vả về hài nhi sinh”.
- Sinh con trễ, nghĩa là sau khi lập gia đình thường thường không thai nghén liền, mà ít ra cũng phải nhiều tháng sau mới có tin mừng.
- Thận trọng và hay kiêng cữ để tiết giảm sinh đẻ. Nhưng cặp vợ chồng nào có Cô Quả tại cung Tử Tức, có thể áp dụng mọi phương pháp hạn chế sinh đẻ một cách hữu hiệu mà không trái số. Nếu thêm nhiều sao xấu đừng kiêng cữ nữa kẻo bị tuyệt tự.
- Nếu có nhiều sao văn học, quyền quý, con cái khi lớn lên hay ở xa cha mẹ, vì chức vụ, hoặc ngay trong thời gian đi học cũng dễ xuất ngoại hoặc ở nội trú.


Cô Quả tại Phu Thê

Cũng giống như trường hợp tại cung Phụ Mẫu, Cô Quả ở cung Thê Thiếp (hay Phu Quân) chủ về người vợ (hay chồng) ít anh em trai hoặc làm con trưởng trong gia đình. Ngoài ra hai sao này còn có nghĩa là vợ chồng, hay có thời gian xa cách nhau. Nếu có sao tốt là vì công vụ nghề nghiệp, nếu có nhiều sao xấu vợ chồng có thể bị cảnh chia ly vĩnh viễn. Trong trường hợp có sao tốt mà vợ chồng không bao giờ xa cách nhau thì phải hiểu rằng vợ chồng giữ gìn nhau rất chặt chẽ, khó lòng có chuyện ngoại tình nổi và nhất là cả đôi bên cùng độc đoán, cương quyết và đa nghi. Nếu có Đào Hồng đồng cung thì rất có thể gặp phải người dở duyên (nghĩa là có vợ hoặc chồng rồi) đang ở góa. Trường hợp Đào Hồng tại Mệnh Thân thì rất khó kết hôn sớm hoặc có sớm được cũng không bền, như sương đọng ban mai mà thôi. Đây mới đúng là cách “trăm mối tối nằm không”.


Cô Quả tại Huynh Đệ

Về cung này tôi chưa tìm ra được điều gì khác lạ, chỉ có điểm là anh em không nên sống gần nhau, hoặc phải có người sống xa cách hoặc vì ngoại cảnh gây nên (như vấn đề di cư khiến cho anh em kẻ nam người bắc chẳng hạn). Ngoài ra hai sao này cũng tiết chế bớt số anh em, chị em. Nếu có Đào Hồng, Thiên không thì chị em gái dễ bị dang dở, trắc trở nhiều lần về hôn phối, hoặc lấy chồng không cưới hỏi.
Trước khi chấm dứt bài này tôi thấy cần nêu ra một điểm nữa: nhiều người nhờ tôi coi dùm tử - vi có thành kiến xấu về hai sao Cô Quả đến mức là khi thấy tới Đại Tiểu Hạn có Cô Quả chiếu là đâm lo về vấn đề chia ly, cô đơn, hạnh phúc vợ chồng xáo trộn. Thậm chí có những quân nhân thấy gặp hạn Cô Quả là lo bị cắm trại 100% thực sự, bị đổi đi xa, bị giam giữ tại quân lao v..v…
Kể ra họ lo ngại như thế cũng đúng vì ít khi gặp hai sao này ở đại tiểu nguyệt hạn mà thật yên lành, ngoại trừ trường hợp có nhiều sao tốt hội chiếu thì có nghĩa là mình có chức lớn được ở phòng riêng (như đã nói ở cung Quan Lộc), được chính phủ cấp nhà ở, hoặc mình tạo được nhà ra ở riêng không sống chung với cha mẹ, anh em nữa, tùy theo trường hợp đại tiểu hạn liên hệ tới cung nào (về điểm này nên kết hợp địa bàn với thiên bàn mới đúng). Ngoài ra, dù biết rằng mình bị ảnh hưởng xấu của hai sao này rồi vẫn còn phải xét tới ngũ hành, nghĩa là xem Cô Quả (Thổ) nếu sinh mạng mình (như Kim chẳng hạn) hoặc khắc mạng mình (như Thủy) thì mới đáng ngại, còn trường hợp mạng mình khác hai sao đó thời vấn đề cô đơn, chia ly không còn đáng ngại nữa. Nếu mạng mình sinh hai sao là xấu nhất, thì mình đã bị tiết khí nhiều lại còn bị hai sao đó quặt ngược trở lại, thì kể như chắc chắn cô đơn, chia lìa nếu Mệnh Thân có thêm cách khắc khổ, cô độc (như có Vũ Khúc, Lộc Tồn, Kiếp Sát, Thái Tuế..v..v…).