Showing posts with label Nghiệm tử vi. Show all posts

CÁCH ĐA PHU QUA LÁ SỐ TỬ VI


CÁCH ĐA PHU QUA LÁ SỐ TỬ VI


Xem người phụ nữ có số đa phu hay không thì cung quan trọng nhất cần được khảo cứu là cung Phu Thê. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số cung khác như: Mệnh, Thân, Nô, Tử... cũng cho biết đời sống ngoại hôn nhân của đương số, hoặc thậm chí qua cung Phu - Thê của người phối hôn cũng có thể gián tiếp biết được cuộc hôn nhân và đời sống ngoại hôn nhân của đương số thế nào.
Xin giới thiệu với bạn đọc của trang Đặng Xuân Xuyến bài viết về cách xem các cách đa phu trên lá số tử vi.

CÁCH ĐA PHU TẠI CUNG PHU 

Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia đạo đặc biệt là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là "ngọc có vết", ám chỉ duyên số phụ nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng cho đến hậu quả trên hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là có hai đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn bà bị hắt hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ có Kỵ đơn thủ thì chỉ có nghĩa là bất hòa mà thôi.
Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn hãm địa sẽ bất lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài lần. Trái lại, nếu ba cung trên tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà thôi.
Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh: khắc phá, dễ đi đến tan vỡ, chắp nối.
Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê dù là đắc địa. Tuần, Triệt báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao thường báo hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba lần. Chỉ riêng Tuần hay Triệt cũng đủ hủy hoại một lần hôn nhân.
Tuần, Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung: chỉ sự gãy đổ một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau khi có lễ hỏi, nặng nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần, Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó tránh và có thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc phải ở vậy nuôi con, dù có "lắm mối" mà tối vẫn "nằm không". Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có. Hai sao này phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ nặng nhẹ, số lần tan hợp còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.
Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia đạo nhiều lần, đặc biệt là khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.
Tử Vi, Tham Lang hội Tả, Hữu: Riêng Tả, Hữu ở Phu ám chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai đời chồng hoặc nếu Mệnh, Thân có nhiều sao tình dục thì có chồng và có cả nhân tình.
Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì Thiên Hình chỉ sự ghen tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám chỉ một vụ ngoại tình nào đó của người chồng (hay vợ) làm đổ vỡ gia đạo, sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính quá ghen tuông của người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn có Đào Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường tái diễn và việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.
Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có phần nặng hơn vì Thiên Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi Đào Hoa có thể chỉ bay bướm lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa là chồng ngoại tình song đây cũng là cách gái hại chồng, phản chồng để thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ khi Riêu thủ ở Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng, ngoại tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương tích) hoặc kiện ly dị.
Đào Hoa hay Hồng Loan gặp Hóa Kỵ: không nhất thiết phải có hai chồng. Chắc chắn nhất là bộ sao này chỉ sự đắc mèo của chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu là có sự lục đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan chính thì vấn đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa "phu". Nếu nhân duyên bị gián đoạn, người đàn bà tái giá rất nhanh, nhờ luôn có kép hờ.
Long Trì, Phượng Các, Tả Hữu: Long Phượng chỉ hôn nhân, còn Tả Hữu ngụ ý có sự song đôi hay tái sinh, tái hợp nhiều lần. Vì bản chất tốt đẹp của Long Phượng nên trong cả hai lần, phụ nữ đều gặp nhân duyên ưng ý.
Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng và vợ đi đôi với Tả Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình hoặc tình trạng có gia đình mà có nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng sáng, hai mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ ám, thường là ngang trái, chia ly.
Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.
Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Riêu: Cự ở Phu chỉ trắc trở gia đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu chỉ sắc dục. Đây là trường hợp ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự ở Phu thường chỉ hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình xác thịt cho nên cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh lý.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới hợp thức hóa (tiền dâm hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ hoặc chồng có một đời con trước rồi mới họp nhau.


CÁCH ĐA PHU TẠI CUNG MỆNH HAY THÂN:


Đào Hoa hay Hồng Loan với Thiên Riêu: đa tình, đa dâm, dù đã có chồng.
Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung: chỉ sự dâm đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi và vô điều kiện. Riêng bộ Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự hiện diện của sao Thai còn có nghĩa "không chồng mà chửa".
Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn đề sinh lý và là biểu hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do thể xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp Riêu tại đó thì có thể là giang hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.
Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục: Mộc Dục và Hoa Cái chỉ sự chưng diện, se sua và háo dâm. Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm đãng vào tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh lý. Đây là người chưng diện sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi người phải chết mê, chết mệt vì họ.
Tướng, Khúc, Mộc, Cái, Đào: chỉ sự hoa nguyệt của hạng người quý phái, ngoại tình với các nhà tai mặt, quyền thế, sang trọng.
Tham Lang hay Thất Sát ở Dần, Thân: chỉ người con gái bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái hay quyền lợi hơn là vì tình yêu
Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội thêm Tả Hữu, có thể có hai đời chồng.
Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng trong tình trường, cụ thể như gặp nhiều mối tình hết sức ngang trái hoặc phải tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử. Người đàn bà như vậy gặp nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng tan, mỗi lần như thế đều phải điêu đứng, đau khổ, có khi đến tự tử (sát tinh).
Chính tinh hãm địa ở Mệnh: cũng là một bất hạnh có thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm Tham không bao giờ hợp với phụ nữ về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể quyền quý cao sang nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn, chắp nối.


CÁCH ĐA PHU Ở CUNG NÔ:
Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có chồng.
Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên Đồng: háo dâm, hay thay đổi tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ có Riêu ở Mão, Dậu thì tương đối kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh giá, tai tiếng. Nếu có Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn thận, nhờ tài khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa là yêu trộm, thương thầm, có khi chỉ một chiều.
Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang chạ.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể có thai. Thông thường, có sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục Binh và Tướng Quân chỉ thủ đoạn, làm liều, táo bạo. Và cũng vì có Phục Binh nên có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình bị bắt ghen tại trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.


CÁCH ĐA PHU Ở CUNG TỬ:


Khi cung Tử là âm cung thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai chồng:
- Thiên Tướng, Tuyệt
- Thái Âm, Thiên Phúc
- Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung
- Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu
- Phục Binh, Tướng Quân
- Thai, Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.


CÁCH ĐA PHU Ở CUNG THÊ CỦA PHÁI NAM:


Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.
Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm hay ngoại tình.
Đào, Thai hay Hồng Riêu hay Riêu Thai: vợ ngoại tình, lang chạ, đôi khi mang con người về cho chồng nuôi.
Thất Sát hay Phá Quân ở Thìn, Tuất: vợ hai lòng.


*.
Theo Tác giả ĐỖ VIỆT PHƯƠNG

Cung Phúc Đức và các vấn đề liên quan đến Mộ Phần



CUNG PHÚC VÀ MỘ PHẦN


Nói về mồ mả (âm đức, âm phúc) của lá số, sách Tử Vi khá dài dòng về thế đất, mộ huyệt... kết hay không kết? Kết như thế nào? Đương số và dòng họ (dương đức, dương phúc) được thừa hưởng ra làm sao?... Rất nhiều sách đã đề cập khá cụ thể, chi tiết nên tôi không đề cập đến vì thực sự không cần thiết. Muốn biết cụ thể, bạn giở sách Tử Vi, phần cung Phúc - Đức ra đọc, sẽ tiện mà lại dễ hiểu.”. Để bổ sung những thắc mắc mà bạn đọc muốn biết về mộ phần của cung Phúc, Đào Anh Dũng tôi xin tổng hợp bài viết với tựa đề CUNG PHÚC VÀ MỘ PHẦN để bạn đọc tham khảo.
Xem cung Phúc có phần quan trọng biết mình ảnh hưởng phúc đức đời nào, mộ phần vị ấy ra sao. Đều tùy thuộc vào phúc đức thực tế của vị ấy, lại xem phần mộ, nếu như ở cuộc đất đẹp khác với cuộc đất lạc lõng. Trong việc này, có vai trò của vòng Tràng Sinh. Nhưng xin mở đầu trình bày từ các chính tinh để có sự liên tục.
Vì mộ phần thì có thể di dời, cho nên địa hình mộ trong lá số là địa hình ban đầu khi chôn cất (theo phong tục không cải táng) hay địa hình khi cải táng đầu tiên. Ví như cuộc đất lạc mộ, có thể di chuyển đến nơi đắc đạ hơn, thì tất nhiên số mệnh có sự cải thiện.
Các sao trong cung Phúc có ý nghĩa về đời tiên tổ (mấy đời tính cả bao gồm cả đời mình, như ông nội là tổ 3 đời), cũng như ý nghĩa hình thể, để hiểu hết hình thể cung Phúc, nên có kiến thức vềphong thủy nhất định.


I. CÁC CHÍNH TINH:

1. Tử Vi:

- Mộ thượng tổ (tổ cả họ, chi họ). Nếu hãm: viễn tổ, có khi là tổ xa xôi hiện gia phả không cho biết rõ ràng được. Dương mộ.
- Có sơn khí khá lớn, tùy vùng mà định đoạt, nếu là vùng sơn cước, ắt có khí từ tổ sơn to lớn triều lại, nếu trung du, đồi núi vừa phải, cũng có sơn phong chủ chốt của vùng ấy, nếu xét bình địa thì có Thủy khí triều tụ, và có chỗ đột khởi vì theo phong thủy thì "cao nhất thốn vi sơn", nghĩa là có gờ đất nổi dậy, khá rõ với địa bàn bàng phẳng chung quanh. Mộ có sơn rõ rệt thì sơn đó thuộc ThổTinh.
+ Tử đắc địa, không có cách xấu xâm phạm: mộ tổ đã xa mà còn phát.
+ Tử gặp Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp: mộ thất lạc, hoặc có người "chôn ké" cuộc đất bên mộ. Nếu mộ thất lạc, có Lục sát mà có thêm Tuần Triệt: tìm lại được.
+ Tử ngộ Triệt: mất mộ, chết không chỗ chôn, hay sa vào hoang địa.
+ Tử Mão Dậu: mộ để cạnh đền chùa, thờ tự, hay chôn đất chùa.

2. Liêm Trinh:

- Mộ 7, 8 đời, thuộc về cao tổ (có nhà cho mộ chú, bác không phổ biến)
- Đất Hỏa tinh, vùng núi thì sơn cao, nhọn, ngọn lởm chởm (nếu thêm Hỏa Tinh hay các sao Hỏa càng rõ). Về bình địa: đất khô, gồ ghề, có màu vàng đỏ, nổi cao. Dương mộ.
+Liêm gặp Tồn,hay Tướng: mả đắc địa.
+ Liêm ngộ Sát, Phá, kiêm hao sát tinh: mộ đất bỏ hoang vu, ít coi sóc

3. Thiên Đồng:

- Mộ tổ 4 đời. Đắc địa, cách đẹp: 3 đời.
- Mộ để đất bình địa,lại có thủy khí (nước), tượng trưng: chỗ đất lõm (đê nhất thốn vi thủy), kinh nghiệm đa phần cho thấy có nước thực sự gần mộ. Về đồng bằng: chôn đất thấp. Về trung du, miền núi: đất bình nguyên, rải rác tinh phong thấp nhỏ thuộc về Thủy Tinh (uốn nếp lòng vòng). Dương mộ.

4. Vũ Khúc:

- Tổ 5 đời.
- Đất cao ráo, khô, thóang đãng, hơi trống, nổi khum khum. Vùng đồi núi: núi cao, mỏm tròn trịa, trông như chõ, như chuông, lại giống như ngọc ấn. Dương mộ.
+ Vũ - Triệt: hành lộ khùng khuỳnh quanh mộ: ý nói có đường đi uốn khúc bên cạnh.
+ Vũ ngộ Tham Khoa: đất phát anh hùng, họ nhiều tay anh hào.
+ Vũ - Tham: phát về võ, đi xa càng phát.
+ Gặp Kình Đà Kị Hình Khốc Hư: cuộc đất hỏng.
+ Tuần - Triệt- Phá: cuộc đất không toàn vẹn, nhưng phát thủ công kĩ thuật hay tay.

5. Thái Dương:

- Mộ ông (3 đời), hãm: 4 (ông cố). Sách bàn thêm, nếu ông còn thì có đắc địa vẫn là ông cố; nếu miếu địa, không sát tinh: mộ cha, đồng thời phải thân chinh đến khu vực nghĩa địa xem có phải mộ tốc phát hay không, mới có thể quyết.
- Đất bằng phẳng, quang đãng, phương kì, thuộc dương long dương hướng. Thảy Dương mộ.
+ Tuần triệt: đất hoang lạc.
+ Hóa Kị: chôn sai thế, sai hướng.

6. Thiên Cơ:

- 6 đời.
- Đất phát mộc, cỏ cây xanh tươi. Dương mộ. Đất bình nguyên.
+ Cơ - Triệt - Toái: hậu đầu mộc xiên (tinh phong hình Mộc đâm chĩa sai hướng về sau mộ) họ hay hạn chết chóc, gỗ đè, ngã cây, ngã lầu, về hạn cũng rất cẩn thận.
+Thai Dưỡng Cái Hồng: phát.
+ Dương Đà: hết phát.

7. Thiên Phủ:

- Mả tổ (đóan như Tử Vi). Hãm: viễn tổ không xác định.
- Cuộc đất lớn. Vùng núi: cuộc tổ sơn. Không nhất thiết Thổ Tinh. Cũng dương mộ.
Cách cục: xem như Tử Vi.

8. Thái Âm:

- Mộ bà nội. Miếu (mẹ đã mất) + quan sát thực địa tốc phát: mộ mẹ.
- Phúc phát chỉ ứng dụng cho ngành thúc (chi dưới), người em, và người thuộc mệnh Kim hay sao Kim thủ Mệnh.
- Đất uốn cong, chạy dài, phì mãn, hình như cặp mày (bán nguyệt), cuộc đất trong mắt thường hay mắt phong thủy đều thấy hữu tình, mĩ miều. Âm long, âm hướng.
+ Tuần Triệt: hoang vu, lạc lõng.
+ Kị: chôn sai cách cục, úng thủy.
+ Khốc Hư Đà Kình Hình Kị hay lạc Không Vong: phù hoa giả tạo, chủ sinh ra người ưa phù phiếm,văn chương sáo rỗng, có xu hướng đồng bóng mê tín, mắt kém, thực chất không phát.

9. Tham Lang:

- 6 đời. Lạc nhàn: 7
- Đất khuyển hình (con chó), tức cũng mộc tinh. Sắc đen. Nhiều cây cỏ. Vùng núi: tinh phong cao dày, mộc hình (dù Tham Lang thuộc Thủy)
- Tham Vũ Khoa Quyền: mộ phát, song toàn văn võ.
- Ngộ Tử, Vũ: phát hay lắm.
- Không - Kiếp hay Tuần Triệt: cao thấp không đều, lổn nhổn, mạch bị cắt, nhưng không tác họa ghê gớm gì.
- Ngộ Liêm: xương cốt đã hư nát rồi, thậm chí mộ chôn tượng trưng, hoặc mộ để đất rất hung hiểm, đáng ngại.

10. Cự Môn:

- 7 đời.
- Bình địa: đất vuông vức như giải chiếu, sắc đất vàng. Cao nguyên: đồi núi vuông vức, mỏm bằng. Thường gần công sở, công trình công.

11. Thiên tướng:

- 5 đời.
- Ở đâu cũng vậyđều thuộc đất bằng phẳng và cao, cuộc đất trông như cái ấn (con dấu cổ).
Nếu không hãm đều là mộ phần chôn cất đúng hướng đúng vị.
+ Ngộ Phá Triệt: xương tiểu lẫn lộn cả đất xấu, hư nát.

12. Thiên Lương:

- 7, 8 đời.
- Đất rời rạc khô nỏ, pha cát sỏi. Đắc, không bị xâm phạm: mộ phần chôn kiểu đất có hậu chẩm rất tốt (Chẩm: "gối", chữ này viết rất giống chữ Trữ "thoi dệt vải "nhưng không phải chữ ấy). Đây là 1 cách mộ đẹp. Tất cả miếu vượng đắc hãm: đất có hình xà (không phải xà là "rắn" mà là "xà nhà" (thượng lương): có gờ đất nổi chạy dài.

13. Thất Sát:

- mà xa đời (cũng 7, 8 đời).
- đất khô, nóng, sắc đỏ, cuộc đất tròn thẳng và dài. Kim hình kiêm Hỏa.
+ Sát - Phá - Phục ngộ Triệt: gây nên họa chiến chinh (tử trận) cho con cháu.
+ Cùng Tử vi - Khoa - Quyền: long hổ chầu phục, hổ lớn hơn long, chủ phát về võ, anh hùng.
+ Không, Kiếp, Đà, Diêu, Tuế: chỉ có tả thanh long, nghèo hèn, họ hiếm người.

14. Phá Quân:

- xa đời.
- đất tản lạc, hình thểvô địch, sơn phong khó hiện như thù ti mãtích, hay bị sụt lở. Xếp vào Thủy tinh bên phong thủy.
+ Triệt - Phá: mộ ven đường, gọi là "lộ bàng mộ".


II. TRUNG TINH:

1. Văn Xương: đất cứng, hình tròn
2. Văn Khúc: thủy đáo đường (thủy lượn quanh mộ)
4. Thiên Khôi: hình mũ, nổi cao, hình đầu người. Phát văn.
5. Thiên Việt: đất hình búa rìu, phát võ.
Các sao trên đều chủ về mộ tổ 3 đời (ông nội), nếu tụ tập đông đủ Khôi Việt Xương Khúc: ông nội để phúc to, nhà ấy con cháu khiến tông đường rạng rỡ.
6. Văn Tinh: mộ có bút sơn, thường là bút học vấn hơn là bút phù thủy.
7. Tả phù - Hữu bật: đất vừa phải không cao, không có đồi núi to lớn, hình như vành khăn vấn đầu ngày xưa, hay đồi núi lờ mờ nhỏ bé.
8. Lộc Tồn: vuông vắn cân phương, sách nói cuộc đất thương khố (kho)
9. Hóa Lộc: Hình Cờ, hình Thương Khố. Có sách nhận nhầm "Thương" (kho) này với binh khí (lưỡi thương: 1 loại binh khí hay thấytrong Tam Quốc).
10. Hóa Khoa: cuộc đất có bảng.
11. Hóa Quyền: cuộc đất có "an bản" (tức yên ngựa), có người đã lưu truyền là"văn bản" là không hiểu hình gì, có nhẽ do nghe nhầm.
12. Kình Dương: - Mộ có cách voi phục. Đắc: có bút sơn loại tốt. Chủ phát khoa bảng, ăn học thành tài. Hãm: tinh phong dòm ngó tức như con chó đá (thạch đầu khuyển) tức mỏm nhọn lởm chởm chầu chực vào, hay gây sự va chạm và khó khăn, có khi hay phát những "tài lạ" như phù thủy, đạo sĩ, mê điều huyền hoặc (ví như phát các ông nói ra các đạo rất kì quặc), cũng có khi phát bút họa sĩ, trừ dư là họ tài văn bất mãn, thi khó đậu, bất đắc chí.
- Có thêm Hỏa Linh Tấu: bút này mới là hay và sinh văn tài hay chữ lắm.
- Hồng Loan, Kình dương: thế đất mày ngài (nga mi) tức bán nguyệt. Gọi là "nga mi tác án"
- Kình hay Đà ngộ Không: có mả đạo táng, tức là có mả chôn trộm (người khác ké trộm)
13. Đà La: hình răng lược, pha cát.
- Đà ngộ Mộ, Dưỡng (đ.c): có người để trộm mả
- tùy chính tinh, nếu hãm, hoặc gia Không Kiếp: mả để sai lạc
14. Hỏa - Linh: đất khô, nóng, sắc đỏ, mả phát hình bút. Có bút sơn triều tấu, nhất là Linh tinh, sinh bút hay lắm, nhưng chính tính phải miếu vượng, không ngồi thủy địa.
15. Không - Kiếp: Hãm địa xảy ra các trường hợp: mất mộ (thất lạc), chết hiểm không được hương khói, mộ âm hồn, mả chôn sai quá đỗi lạc đất hung hiểm, mả chôn sơ sài bên đường, thậm chí không được chôn cất. Đắc: có mất mộ. Trừ dư là mộ phần khô khan nóng nảy quá, không có thủy khí
- Ngộ Kiếp Không hay Tuần triệt: mất mộ vùng hoang địa.
- Kiếp Không Khốc Hư Hình Kị (hay Kình Đà): bạch tang.
- Quan phù - Tử phù: tổn thọ, lạc mộ
- Không kiếp Mã: mả lạc vô cùng, có long có hổ nhưng cả 2 đều ngoảnh mặt đi, sinh người ăn chơi, phiêu dạt, thích giang hồ tứ xứ, hoặc đi xa sinh kế vất vả, hay chết đường, tai nạn giao thông (gọi là lộ tử).
16. Đào Hoa: mả nổi lùm như bình bát.
17. Hồng Loan: bán nguyệt, các cách cục chim muông trong phong thủy. Thêm Thanh long là có thứ thủy (nước) trong sạch tụ thủy.
18. Long trì: gần ao chuôm, hay giếng
19. Phượng các: gần nhà của, lâu đài, đất đỏ, cách cục chim muông.
- Phát về mộ mới, tức chữ gọi là"tân phần" (giống như Hỉ Thần, Hoa cái)
20. Quang - Quí: có ân nhân đê mộ cho, có nhân đức tổ tiên phù hộ: "ân quang báo ứng tiền nhân ân quang sinh nghĩa 10 phần báo ân"
21. Quan - Phúc: Mả chôn gần đền miếu chùa chiền thần hoàng, nơi thờ tự nói chung, nhà có phúc lớn. chịu ảnh hưởng Mả 2 đời. Đất có địa linh.
- Quan Đà Kị: mả táng hắc vân, tức kiểu mộ u ám, cũng hay sinh đầu óc ưa huyền bí, u hoặc, đồng bóng.
22. Thai - Tọa: trên trời sao Tam Thai có 3 ngôi, sao Bát Tọa 8 ngôi, rất đẹp, nhưng cổ nhân nói mộ được cách Tam Thai Bát Tọa như trong sách phong thủy mô tả e rất khó, vì theo sách phong thủy cuộc đất Tam Thai - Bát Tọa rất khó kiếm. Cuộc đất Thai Tọa này cũng là chỗ "đấng vàng" mà sấm Trạng Trình có nói, vậy kiểu đất này hiếm hoi lắm. Thực tế Thai Tọa chỉ là mộ yên ổn thôi.
23. Hoa Cái: hình lọng, hình hoa, hình bát. Cũng chưa chắc chắn, chỉ là cuộc đất đẹp đúng kiểu cách nói chung. Phát mộ mới. Cung Phúc có cách tiền Cái hậu Mã rất đẹp. Mả ấy phát nhanh lắm, làm sang (phát quí hơn phú).
24. Thai Phụ: tamgiác
25. Phong Cáo: vuông
26. Thiên hỉ: đất phù sa, đất bãi (bằng sa) mả phát, phát về mộ mới.
Trên đây là những lời luận còn rất đơn sơ, thiếu sót, muốn xem tinh hơn phải kết hợp thêm kiến thức phong thủy, có thể xem bản đồ 12 cung Tử Vi tương tự như bản đồ phong thủy, lại tham khảo tính chất ngũ hành, ví như sao hành Hỏa thì tinh phong cũng thuộc Hỏa, hình thế địa lí là Hỏa, lại căn cứ âm dương của sao mà định là dương long hay âm long, dương hướng hay âm hướng.
Về địa đồ, lấy 2 cung giáp làm tả hữu, lấy cung xung chiếu làm minh đường, tam hợp làm cách cục. Lấy sao Thanh long làm Tay Long, sao Bạch hổ làm Tay hổ, coi ở phương vị nào tất long hổ ở về phương vị ấy.
Lại lấy Tràng Sinh làm khởi tổ, lấy Thanh long làm Long hành (long đang đi), nghĩa là chỗ đó chưa để huyệt được.Xem đến phương nào nhập Mộ là khí tụ,lại xem có sao Thủy cung Thủythì mới có ThủyKhí.
Bất cứ đắc vượng thế nào, cần có Phượng Cái và nhất là Song Hỷ thì mộ mới kết phát rõ rệt.
Hiện nay thời thế đổi khác, không mấy ai xem về phong thủy mộ phần, và điều kiện xã hội cũng không cho phép, nhưng về phần mộ sợ nhất là Mộc Dục là kết nạp Bại Thủy, còn đáng sợ hơn Tử.
Người xưa có luận về Vòng Tràng sinh và đại hình phong thủy, nhưng cốt yếu chưa phải ở đấy, mà ở chỗ ảnh hưởng rộng rãi về cõi phúc ra sao, rất là quan hệ.
1. Tràng Sinh: Tràng Sinh - Đế Vượng ta hay nói đa đinh. Nhưng tràng sinh là chỗ ngũ hành sinh ra, khí vẫn đương non nớt và chủ sự di động, không hợp với cung Phúc. Về hình thế hay nói có thủy bao bọc, nhưng xét đây chưa phải chỗ thủy tụ, cũng chỉ là chỗ thủy đương xuôi chảy. Xét sơn khí, đây cũng chưa phải chỗ núi dừng kết huyệt.
Về nhân sinh, cung Phúc có Tràng sinh tất sinh người có trí, lại năng động, ưa điều tiến bộ, nhưng chưa chu đáo, cuộc sinh kế tuy có sáng kiến mở mang, song hao sức bươn chải, làm nhiều hơn tụ. Mệnh nhị hợp với tràng sinh lại tốt, hay may mắn khỏe lẹ, được phúc đức phò trợ. Trừ dư không được hưởng phúc tổ nhiều, mả có kết phát cũng người khác được hưởng.
2. Mộc dục: Phúc bại, ưa sắc dục, trong họ hay có tình duyên ngang trái. Bản thân cũng vất vả, đời trôi nổi, coi thêm cung Tật để định bệnh sắc dục, yếu sinh lí, hay mắt kém, thận suy, phát tác vào tuổi trung niên. Khí nhà không còn vượng. Tính nết bồng bột
3. Quan đới: Khí nhà đã bộc lộ khởi từ vị trí này. Chủ mạnh mẽ về đường thanh quí, nhưng khả năng giải họa chỉ bình thường thôi. Bản thân triển vọng, có bôn ba cũng thành công đã hẹn.
4. Lâm quan: Là ngũ phúc đáo đường. Tính giàu độc lập, cơ nghiệp bền vững, lâu dài, đảm đương cán đáng. Chủ phú quí thọ, giải họa rất mạnh.
5. Đế Vượng: đừng tưởng Vượng tại Phúc là hoàn mĩ. Các đời đều có đế vượng trong Phúc thì họ đa đinh, nhân mãn nhưng bất tài, dòng họ không lấy gì làm phát. Đương số nếu cung Mệnh đẹp thì thành công sớm nhưng dễ chịu cảnh chóng tàn. Về phúc thọ vẫn được thừa hưởng, khả năng giải họa vẫn có, thời không được như Lâm quan thôi.
6. Suy: mả này còn phát. Nếu cung Mệnh đẹp không hề gì, vẫn thành công như thường.
7. Bệnh: số cực, không có phúc phò trợ
8. Tử: Không phải Tử mà xấu, vẫn có phát nhỏ. Thường có âm đức vừa phải, nhưng kị đi với Tử phù.
9. Mộ: phúc đẹp, mệnh đẹp thì phát phúc, âm đức mạnh, giải họa.
10. Tuyệt: mộ vô khí, bị xâm hại. Đương số thân tự lập, nhưng chí lớn nếu xét mệnh đẹp, không thì cố sức vẫn bất toại. Ở đây phải biết nếu sao trong cung ấy đắc vượng thì không tuyệt nữa.
11. Thai: Cách này phù hợp kẻ Sát Phá Tham và Không Kiếp đắc vượng. Chính tinh ở Phúc vượng thì số rất hay, có mộ mới kết phát, phúc phát độ trung niên, khi đó lên rất chóng. Cung Phúc sao chính tinh hãm gia sao xấu thì cả đời bất hiển. Chính tinh hãm, thêm có trung tinh đắc cách phò trợ, mệnh đẹp vẫn nên quan nhưng tai họa bất ngờ, bệnh tật và không hạnh phúc về nhân sinh.
12. Dưỡng: là cách phúc đẹp, ngay cả khi sao Tuyệt thủ mệnh vẫn không phải mệnh tuyệt khí, do đó mà ta thấy nhiều người mệnh có sao Tuyệt vẫn hiển đạt bình thường. Đây ví như khí phúc còn đương vun vén tài bồi.
Những sao kể trên phải kết hợp với chính tinh, cách cục các sao, lại xem thêm cung Mệnh cho việc luận đóan được chu tất. Ví như Tràng Sinh - Đế vượng cư phúc chưa phải là hay, nhưng nếu chính tinh hãm địa thì Sinh vượng có thể phù nó, nhưng chính tinh miếu vượng địa thì Đế Vượng Tràng Sinh ở đây lại tiết giảm sức của sao đó, hay chóng nở chóng tàn. Sao lạc nhàn gặp Lâm quan, Dưỡng, Quan đới thì không nhàn, sao miếu vượng gặp các vị này thì duy trì sức được bền lâu. Cứ trên nguyên tắc ấy không câu nệ đắc hãm thái quá. Đem áp dụng vào cung Mệnh cũng vậy, nhưng các sao vòng Tràng Sinh ở cung Mệnh lại ngụ ý khác, xem ra cũng tương tự Tử Bình, như Lâm quan thì hay khoác lác, đại ngôn, ham hố địa vị, Quan đới tuy hiển nhưng nếu thêm Kiếp sát thiên hình là dây oan, thêm Đào hồng kị thì tình oan trái... Đó là việc riêng của cung Mệnh, không phải ở Phúc
*
Tác giả : ĐÀO ANH DŨNG

Thái Âm Hoá Kỵ Luận Bàn






BÀN VỀ THÁI ÂM HÓA KỴ
*

Khi nghiên cứu về Tử Vi, hẳn bạn đọc sẽ có nhiều thắc mắc về thuật ngữ “Thái Âm hóa Kỵ”. Nhằm giải đáp phần nào thắc mắc của bạn đọc, Đoàn Mạnh Thế tôi xin giới thiệu bài viết có tựa đề BÀN VỀ THÁI ÂM HÓA KỴ để bạn đọc tham khảo.
Thái Âm hóa Kị, ý nghĩa phổ biến nhất là bất lợi đối với người thân phái nữ, nhất là ở cung vị lạc hãm thì càng đúng.
Nói "bất lợi" ở đây, không nhất định là bệnh tật hay tử vong, có lúc chỉ biểu hiện là thiếu duyên phận với nhau, hai bên khó thông cảm cho nhau, hoặc vì hoàn cảnh khách quan mà hai bên ít có cơ hội gặp nhau. Cần phải xem xét kỹ các sao Sát - Hình - Kị hội hợp thực tế mà định.
Gặp Thái Âm hóa Kị, cũng biểu trưng cho tình huống rắc rối về tình cảm, thường chủ về trong lòng có ẩn tình khó xử. Nếu gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, Văn xương, Văn khúc, thì đây là điềm tượng tình yêu không bình thường, nam mệnh phần nhiều chủ về có khuynh hướng "đồng tính luyến ái".
Thái Âm hóa Kị ở cung miếu vượng, thì ảnh hưởng đến tình hình lợi lộc, thường thường biểu hiện là trong đời người có một thời kỳ cảm thấy mình rất có tài mà không gặp thời. Nếu Thái âm hóa Kị ở cung lạc hãm, thì đây là điềm tượng không tốt; trái lại, sẽ ưa gặp Sát tinh "kích thích", chủ về có thể theo ngành công nghệ. Cổ nhân gọi là "thợ", nhưng ở thời hiện đại, cũng chủ về những ngành khoa học kỹ thuật.
Thái Âm hóa thành sao Kị ở cung Tý, đồng độ với Thiên Đồng. Đối với nữ mệnh thì rất ưa trang điểm, chải chuốt, làm đẹp, nhưng tính cách điệu nghệ thuật không cao, thường dễ bị người ta phê bình cách thức trang điểm của bản thân đương số.
Đối với nam mệnh thì có nội tài, dễ được người khác giới để mắt, nhưng lại thiếu duyên phận. Về hôn nhân, nam mệnh và nữ mệnh đều nên nhờ người giới thiệu, và nên kết hôn muộn, nếu không sẽ chủ về duyên phận không đủ.
Khi gặp hoặc Văn xương, hoặc Văn khúc, thì thường là văn sỹ nghèo nàn, thất chí, nhưng cũng có chút thanh danh.
Về sức khỏe phần nhiều chủ về bệnh ở mắt, như bệnh nốt ruồi bay, nếu có thêm các sao Sát Hình nặng, thì có thể bị mù.
Thái Âm hóa Kị ở cung Sửu, là Thái âm và Thái dương đồng cung. Vì Thái Âm hóa Kị nên gây lụy cho Thái Dương, khiến tăng thêm vất vả khổ lụy, và không có duyên với cha mẹ.
Cuộc đời và sự nghiệp có tính lưu động khá lớn, dễ thay đổi nghề, mà nghề thường thường cũng là loại "lao tâm tổn thần", cũng chủ về có lúc cuộc sống dễ chịu thì lại không có tinh thần làm việc, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp.
Thái Âm hóa Kị ở cung Dần, là "Thiên cơ Thái âm" đồng độ với Đà la, Thiên cơ đồng thời hóa Lộc. Nếu gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, thì tình hình tiền bạc trong tương lai khá nghiêm trọng. Tham khảo thêm ở đoạn thuật "Thiên cơ hóa Lộc".
Thái Âm hóa Kị ở cung Mão, khá bất lợi về hôn nhân, tình hình dễ xuất hiện nhất là vợ chồng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, nhất là đối với nữ mệnh, nên kết hôn muộn. Nam mệnh thì phần nhiều sự nghiệp chìm nổi thất thường, chỉ thích hợp làm công hưởng lương, không thích hợp tự kinh doanh làm ăn, tự kinh doanh làm ăn sẽ dễ xảy ra trắc trở và thất bại.
Thái Âm rất ngại hóa Kị ở cung Thìn, hội Sát tinh, cần phải rời xa quê hương để phát triển, nếu ở bản địa sẽ gặp nhiều áp lực. Nếu có các sao Sát - Hình đồng độ, thì có lợi khi rời xa quê hương có thể làm những ngành nghê thủ công để mưu sinh, ở thời hiện đại có thể làm những nghề về khoa học kỹ thuật. Nam mệnh và nữ mệnh, hôn nhân đều bất lợi, nên kết hôn muộn.
Thái Âm hóa Kị ở cung Tị, cũng nên chủ động rời khỏi quê hương để phát triển. Cung Di là Thiên cơ hóa Lộc hội Thiên mã, là cách "Lộc Mã giao trì", nếu xuất ngoại ắt sẽ sáng sủa phát đạt.
Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, an Mệnh tại cung Tị này đều bất lợi đối với người thân phái nữ. Cho nên nam mệnh hôn nhân không tốt đẹp, thường thường phải tái hôn mới sống đến bạc đầu.
Tinh hệ "Thái âm Thiên đồng" đồng độ ở cung Ngọ, mà Thái Âm hóa Kị, cần phải xem xét tình hình của tinh hệ hội hợp mà định. Nếu có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ, sẽ chủ về rời xa quê hương, hoặc chủ về "song trùng phụ mẫu".
Thái Âm hóa thành sao Kị ở bản cung, thường thường bị ảnh hưởng về sự nghiệp, chủ về có biên độ lên xuống thất thường rất lớn, vì vậy nên làm những công việc có tính thiết thực, cũng chủ về có khuynh hướng "đồng tính luyến ái" như Thái Âm hóa Kị ở cung Tý.
"Thái Âm đồng cung với Thái Dương" ở cung Mùi, mà Thái Âm hóa Kị, còn Thái dương cũng bắt đầu ngả về chiều, cho nên bất lợi đối với cha mẹ, bất lợi nhất là người thân phái nữ. Nếu Sát tinh quá nặng, cũng chủ về Mẹ sống cảnh góa bụa.
Người có tinh hệ này thủ Mệnh, bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, thường thường đều có tính bên ngoài thì "cương" mà bên trong thì "nhu", cho nên phần nhiều đều gặp trắc trở về sự nghiệp và tình cảm (ngược lại: ngoại nhu nội cương ?).
"Thái âm Thiên cơ" đồng độ ở cung Thân, mà Thái Âm hóa Kị, cũng có tình hình "cọp mà ăn thức ăn của mèo". Tham khảo thêm ở đoạn thuật "Thiên Cơ hóa Lộc".
Thái Âm hóa Kị ở cung Dậu, nữ mệnh rất bất lợi về tình cảm, thường chủ về làm "nhị phòng" hay "kế thất", nếu không khó có thể sống với nhau đến bạc đầu. Đối với nam mệnh chủ về lang bạt tha hương rồi mới tay trắng làm nên, nhưng vẫn chủ về "danh" lớn hơn "lợi", mức độ thu nhập tăng theo địa vị xã hội, và không thích hợp tự kinh doanh làm ăn. Dễ được phái nữ yêu thích, nên cũng gặp nhiều rắc rối khó xử về tình cảm, do vậy lãng phí rất nhiều thời gian của đời người.
Thái Âm hóa Kị ở cung Tuất, không có ảnh hưởng xấu, Thái Dương ở Thìn đối cung là ánh sáng đang hiển lộ, Thái Âm đối nhau ở xa xa, là cách ưu mỹ. Nên Thái Âm hóa Kị chỉ chủ về thiếu phúc ấm của cha mẹ, nhưng lại biểu trưng cho "tay trắng làm nên".
Thái Âm rất ưa hóa Kị ở cung Hợi, là "biến cảnh". Thái Âm lúc này tỏa sáng, khi Hóa Kị chỉ chủ về đời người phải trải qua một giai đoạn đau khổ, nhờ vào đó mà thành tựu được sự nghiệp.
Nhưng "tam phương tứ chính" có các sao hội hợp phần nhiều có tính "lưu động", cho nên bất kể là nam mệnh hay nữ mệnh, đều chủ về dễ gặp rắc rối khó xử về tình cảm, thường vì có khuynh hướng yêu đương lãng mạn (nên gia đình khó tránh khỏi sứt mẻ hay đổ vỡ).
*.
Trích của tác giả: ĐOÀN MẠNH THẾ 

Sao Hollywood duy nhất không dinh thự, không hàng hiệu mà phân phát tiền cho người nghèo



Những ngôi sao ở Hollywood thường đi siêu xe, ở biệt thự, xài hàng hiệu… tiền tiêu không hết. Tuy nhiên, có một người trong số đó thì hoàn toàn “dị biệt”.

Keanu Reeves, 17 tuổi đã đi theo con đường nghệ thuật, được mọi người biết đến nhiều nhất qua bộ phim “Ma trận” nổi tiếng được công chiếu trên toàn thế giới vào năm 1999. Bộ phim thu về số tiền khổng lồ 1,6 tỷ đô la; gặt hái cho nhà sản xuất 4 tượng vàng Oscar danh giá; đưa tên tuổi của Keanu Reeves lên hạng sao đình đám nhất Hollywood thời bấy giờ.Keanu Reeves trong bộ phim Ma trận nổi tiếng.

Thế nhưng trong giới ngôi sao ở Hollywood thì Keanu Reeves hoàn toàn là một người “lạ thường”.

Không có vệ sĩ, không mua nhà đắt tiền, đa phần sống ở khách sạn, sống một cuộc đời nay đây mai đó.

Không mua siêu xe, chỉ lái chiếc xe môtô yêu thích.

Không mặc đồ hàng hiệu, thường mang đôi giày bốt rách.

Với danh tiếng của anh thì nhất định nhận được rất nhiều lời mời quảng cáo, nhưng anh chỉ nhận lời những hãng mà anh thích nhất.

Anh đã tặng 70% thù lao từ phim Ma trận cho bệnh viện, mua xe Harley cho 12 diễn viên đóng thế.Keanu Reeves giản dị giữa đời thường, hay cho tiền người nghèo.

Thuộc hàng điển trai trong giới Hollywood nhưng không trau chuốt, không hề lo lắng về hình tượng, sống cuộc sống giản dị.

Năm nay Keanu Reeves đã 52 tuổi nhưng bề ngoài trông còn rất trẻ. Mang trong mình dòng máu lai đa quốc gia Mỹ – Á – Âu, anh có một ngoại hình rất được yêu thích và gương mặt điển trai.



Tuy nhiên, Keanu thường không trau chuốt và không hề lo lắng về hình tượng.

Có khi ra ngoài nhưng Keanu không hề trau chuốt, để râu xồm xoàm.



Có khi đầu tóc rối bù, ăn mặc lếch thếch, đôi giày anh mang cũng đã rất cũ.



Một Keanu thoải mái, thích gì làm nấy hoàn toàn không có vẻ gì là một siêu sao Hollywood như trong tưởng tượng của mọi người.



Khi mọi người nhìn thấy anh ấy trên đường, có thể anh đang ngồi trên ghế, ăn sandwich hay bánh ngọt, biểu cảm rất là thản nhiên.



Khi đi đường, anh sẽ cho người ăn xin tiền.



Anh thường trò chuyện, chia sẻ đồ ăn với những người vô gia cư trên đường.

Vào ngày sinh nhật thứ 46, Keanu đã tự mua cho mình một cái bánh kem nhỏ, đốt nến, ngồi bên đường và tự chúc mừng sinh nhật mình. Một người vô gia cư trên đường chào anh, anh đã sẽ chia sẻ bánh sinh nhật của anh với người này.



Keanu sống một cuộc sống đơn giản, tiết kiệm nhất, thường xuyên đi lại bằng tàu điệm ngầm.


Ngôi sao Hollywood giàu lòng nhân ái nhất, trầm lặng phân phát tiền cho những ai cần

Keanu “rách rưới” như vậy không phải vì anh nghèo không có tiền, mà vì anh đã tiêu tiền bằng cách phân phát cho những người khác.

Một Keanu Reeves có giá thị trường không dưới 300 triệu USD nói rằng: “Tiền bạc là thứ mà tôi không quan tâm đến nhất, bây giờ tiền của tôi đã đủ sống mấy thế kỷ rồi, chi bằng tặng tiền cho những ai cần đến nó hơn”.

Sau khi bộ phim “Ma trận 2” có doanh thu phòng vé rất cao, Keanu đã nhận được 100 triệu USD tiền hoa hồng. Thế nhưng anh đã tặng 75 triệu USD cho các nhân viên kỹ thuật và thiết kế làm việc sau hậu đài.

Anh nói: “Họ mới là những người cực khổ, vĩ đại nhất!”

Keanu còn rộng rãi hơn nữa khi mua xe Harley cho 12 diễn viên đóng thế trong phim Ma trận.

Không chỉ thế, anh còn ủng hộ hết mình cho những diễn viên là anh đánh giá cao, tình nguyện từ bỏ cơ hội, tự giảm cát xê.

Khi quay bộ phim “The Replacements” (Chàng cầu thủ dự bị), để mời được diễn viên Gene Hackman tham gia, anh đã tự giảm cát xê của mình xuống.Keanu đã tự giảm thù lao của mình xuống trong bộ phim The Replacements để mời được Gene Hackman tham gia.

Trong phim “The Devil’s Advocate”, anh đã chủ động giảm 1,8 triệu USD tiền thù lao với hy vọng rằng đoàn phim có thể mời được diễn viên Al Pacino.



Khi quay Ma trận, Keanu và võ sư Trần Hổ từng muốn sau này cùng quay một bộ phim. Nhiều năm sau, Keanu đã tham gia đóng phim “Man of Tai Chi” (Thái Cực Truyền Nhân) cùng Trần Hổ. Anh từ chối hai bộ phim lớn và còn tự mình chỉnh sửa kịch bản, bước vào con đường làm đạo diễn.

Anh nói: “ Tôi quay Man of Tai Chi chỉ là vì Trần Hổ mà thôi”.
“Tôi độc lập như thế này là bởi vì tôi hiểu rõ cuộc đời”

Keanu sinh ra ở cộng hòa Liban (một quốc gia nhỏ ở Trung Đông), cha anh là người Hawaii gốc Hoa, mẹ là người Anh. Năm 3 tuổi, cha mẹ anh di lỵ. Cũng vì thế mà Keanu đã từng phải sống ở Liban, Hawaii, Macao và cuối cùng là Canada.

Tuổi thơ của Keanu trôi qua đầy thăng trầm.

Khi anh còn nhỏ, cha anh đi tù. Từ đó về sau cha con anh không còn gặp lại nhau nữa.

Năm 1999, Syme – bạn gái của anh mang thai, đứa trẻ qua đời vào tháng thứ 8 trước khi sinh. Điều bất hạnh hơn là sau đó Syme qua đời trong một vụ tai nạn. Lúc đó Keanu đang quay Ma trận 2, khi nhận được tin xấu, anh vội vã rời khỏi đoàn phim.

Trong tang lễ, Keanu và người thân cùng nâng quan tài, người ta gọi anh là “Tình yêu của cuộc đời cô” trên cáo phó của Syme.



Em gái Kim Reeves của Keanu được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư máu. Vì em gái, anh đã sửa nhà thành phòng bệnh, quyên góp hầu hết số cát xê của mình cho bệnh viện ung thư. Anh đã dành rất nhiều thời gian để chăm sóc cho em gái.

Keanu đã trải qua tất cả những thăng trầm trong cuộc sống khiến anh hiểu về cuộc đời: không mặc hàng hiệu, không cần một cuộc sống xa hoa; tiền bạc, vật chất, những thứ này đều không quan trọng, muốn làm gì thì làm cái đó.

Đến bây giờ khi đã 52 tuổi, Jeanu Reeves vẫn chạy chiếc Harley cũ của mình, sống một cuộc sống tự do tự tại.



Anh từng nói: “Tôi không muốn chạy trốn khỏi cuộc đời vì tôi biết cái đẹp của nó. Tôi vẫn muốn kết hôn, có con và tôi sẽ làm điều đó.

Đám cháy rừng cũng có cái lợi của nó. Đôi khi kẻ thù là người thầy tốt nhất và chúng ta có thể học từ sai lầm của bản thân. Sự hủy diệt đôi khi mang ý nghĩa tái sinh”.

Những lời nói, hành động của Keanu đã làm ấm cả thế giới. Mọi người đều hy vọng rằng sau này sẽ có người sưởi ấm trái tim anh.

Theo Secret China(Ảnh sưu tầm)
Xuân Nhi