Showing posts with label Kiến thức tử vi. Show all posts

LUẬN BÀN VỀ TUẦN TRIỆT TRONG TỬ VI



Hành của Tuần & Triệt


Có người cho rằng Tuần và Triệt không có hành gì hết. Có người cho Tuần là Hỏa và Triệt là Kim. Chỉ có một điều mà tất cả mọi người đồng ý là Tuần và Triệt có thể làm sao xấu bớt xấu, sao tốt bớt tốt. Như vậy trong khoa Tử Vi, có tiềm ẩn định phân biệt các sao chính tinh và phụ tinh ra 2 loại cát và hung, trong khi Tuần và Triệt là 2 sao có thể là hung tinh hay cát tinh tùy theo nơi 2 sao án giữ.

Sự huyền bí cuả 2 sao Tuần và Triệt cũng vòng quanh theo 2 lý lẽ Âm Dương và Ngũ Hãnh. Hai sao Tuần Triệt nầy là 2 sao đặt biệt hơn các sao khác về mặt ngũ hành. Theo tôi nghĩ, Tuần Triệt không phải chỉ có một hành duy nhất, mà cả ba hành thay đổi tùy theo vị trí tọa thủ. Tuần an theo vòng Thiên Địa Nhân (Giáp thìn, Giáp dần, Giáp tý, Giáp tuất, Giáp thân, Giáp ngọ).

Tuổi phần – Tuần an – Tam Tài – Hành
_____________________ __________ ________ _____

Giáp Thìn => Quý Sửu – Dần, Mão – Thiên Hỏa
Giáp Dần => Quý Hợi – Tý, Sửu – Địa Thủy
Giáp Tý => Quý Dậu – Tuất, Hợi – Nhân Kim
Giáp Tuất => Quý Mùi – Thân, Dậu – Thiên Hỏa
Giáp Thân => Quý Tị – Ngọ, Mùi – Địa Thủy
Giáp Ngọ => Quý Mão – Thìn, Tị – Nhân Kim

Sao Triệt an theo vòng Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, …). Nếu Triệt và Tuần là 2 sao có ảnh hưởng với các sao khác giống nhau chỉ là mạnh hay nhẹ tùy theo trước sau 30 năm, thì 2 sao nầy thì cũng phải cò hành như nhau .

năm, thì 2 sao nầy thì cũng phải cò hành như nhau .

Tuổi phần – Triệt an tại – Hành
___________ __________ ____
Giáp, Kỷ – Thân, Dậu – Hỏa
Ất, Canh – Ngọ, Mùi – Thủy
Bính,Tân – Thìn, Tị – Kim
Đinh, Nhâm – Dần, Mão – Hỏa
Mậu, Quý – Tý, Sửu – Thủy

Sự ảnh hưởng của Tuần & Triệt

Trước tiên ta bắt đầu suy đoán sự ảnh hưởng của Tuần và Triệt thì ta phải ghi nhớ rằng ngũ hành của các sao không bị thay đổi mà hành của cung bị thay đổi

Như vậy 2 vị trí đắc địa của Tuần và Triệt là ở cung Kim và cung Hỏa. Khi Triệt đáo Kim cung (cung Thân, Dậu), thì Triệt mang hành Hoả (THIÊN). Và khi Tuần lâm địa Hỏa (cung tịï, ngọ) thì Tuần mang hành Kim (NHÂN) và Thủy (ĐỊA). Theo ngũ hành tương khắc, thì ta biết cung Kim bị khắc Hỏa Triệt, và cung Hỏa khắc Thủy Tuần. Có nghĩa là Hỏa Triệt đáo Kim cung (cung Thân, Dậu), và khi Thủy Tuần lâm địa Hỏa (Ngọ), thì Tuần và Triệt là chổ hoạnh phát mạnh mẽ nhất.

Thí dụ 1: Khi sao Mộc an tại cung Kim, thì sao Mộc nầy là hãm địa. Nhưng khi có Hỏa Triệt đáo Kim cung, thì Hỏa Triệt làm cho cung Kim nầy trở thành cung Kim đái Thủy. Cho nên khi sao Mộc an taị cung Kim đái Thủy thì sẽ từ hãm địa hóa thành đắc địa. Vì thế cho nên trong Tử Vi có câu Triệt đáo Kim cung là như thế.

Thí dụ 2: Trong khi sao Thủy an tại cung Kim, thì sao Thủy nầy là miếu địa. Nhưng khi có Hỏa Triệt đáo Kim cung, thì sao Thủy nầy cũng như là sao Thủy an tại cung Kim đái Thủy thì sao Thủy nầy cùng lắm trở từ miếu địa thành đắc địa chứ không thành hãm địa

Thí dụ 3: Khi sao Kim an tại cung Hỏa hay cung Ngọ, thì sao Kim nầy là hãm địa. Nhưng khi có Thủy Tuần lâm địa Hỏa, thì Hỏa cung trở thành Hỏa đái Thủy cung. Cho nên những sao Kim an tại Hỏa cung có Thủy Tuần án giữ thì lại trở từ hãm địa thành đắc địa.

Thí dụ 4: Khi sao Thổ an tại cung Hỏa, thì sao Thổ nầy là miếu địa. Nhưng khi có Thủy Tuần lâm Hỏa cung, thì Hỏa cung trở thành Hỏa đái Thủy cung. Cho nên những sao Kim như an tại cung Hỏa đái Thủy cung thì những sao Thổ nầy lại trở từ miếu địa thành bình hòa

Thí dụ 5: Người sinh giờ Tý tháng 2 năm 1969, Kỷ Dậu có bản mệnh là Thổ an tại cung Mão là cung Mộc. Đây là cách Mộc áp Lôi Kinh, rất là xấu. Cái hên của người nầy là năm Kỷ Dậu là năm trong từ năm Giáp Thìn đến Quý Sửu cho nên Tuần an tại cung Dần Mão mang ngũ hành là Hỏa. Sao Hỏa Tuần nầy hóa cung Mão thành Mộc đái Thổ, cho nên số người nầy không mang cái họa cách “Mộc áp lôi kinh”.

———————————-

HIỆU LỰC TUẦN,TRIỆT Ở TỬ VI DẨU SỐ


“Sự mạc minh ư hữu hiệu,Luận mạc dịnh ư hữu chứng”
(Sự việc không gì tỏ hơn là thí dụ. Biện luận không gì quyết định hơn là có chứng cứ)

Thế mà trong cac lọai sách viết về TỬ VI,chưa có thấy khẳng định rõ ràng khuôn phép cho 2 sao Tuần, Triệt. Vì thế bài viết này cũng là phiếm luận như những câu chuyen về huyền thọai phi tần mỹ nữ, vương tử hoàng tôn: “Cứ lượt qua mà giải trí, chẳng nên coi trọng gì để mất đi hoà khí khi bất đòng ý kiến.” OK.

Tuần là Tuần trung không vọng
Triệt là Triệt lộ không vong.

– Triệt như án tử hình,Tuần như vòng lao lý. Triệt phá quyết liệt, Tuần bũa nhốt vậy. Tại sao ??? Tạm lý sự cùn là các thầy xem năm tháng ngày giờ chỉ kiêng cử cái giờ Triẹt lộ không vong chứ nào để ý dến và xem cái Tuần không trung vong ra gì.

– Tại sao Triêt lộ không dám chiếm đóng ở Tuất Hợi (là ở phương Kiền, là phương Tây bắc, là phương có Địa võng) ??? Vậy là khi găp đại, tiểu hạn gì mà gặp Triệt là ta có thể yên chí dời giường ngũ của mình về phương Tây Bắc của nhà ở hoặc cắt hai tấc vuông (lương địa) lưới chài cá địa võng) loại đã cũ, đã dùng rồi bọc trong người là “trí định tâm an” Qua đó thì thầy Triệt cũng có chổ khăc chế, cũng có chổ trị được. Nói ngang nói ngược, vô sách vô sư giống như “Em về điểm phấn tô son lại” và “Em về rũ áo lau son phấn”. Thích cái nào thì xào cái ấy. Vậy thôi!

– Triệt, Tuần đồng cung thì dĩ nhiên tác dộng mạnh hơn là tách rời. Bè phái ma, tập đoàn ma.

– Triệt, Tuần là cái loại “tam vô”, là cái loại du thủ du thực, ai muốn chơi kiểu gì thì nó chơi theo kiểu đó, nó chỉ hành cho mình mất ngủ chứ nó chẳng cần “ngũ hành” gì cả.

– Tuần, Triệt tới cung nào là bất lợi cho cung đó. Nó là lọai “cõng rắn cắn gà nhà”

– Triệt, Tuần làm cho cung vô chính diệu vượng hưng lên vì bán nhà cho kẻ cướp còn hơn là để nhà hoang vô chủ.

– Tuần, Triệt làm đảo nghĩa các sao đồng cung: Vào nhà găp thằng xấu thằng hung thì nó phải thua và chịu phép, gặp kẻ hiền tốt thì phải sợ và nghe theo nó, cái này ví như “dương cực âm sinh, âm cực dương sinh” xâu xấu hoá tốt, xấu tốt lẫn lộn thì rõ ràng là gần mực thì đen vậy.

– Tuần, Triệt mà hội chiếu, xung chiếu, tam chiếu thì chẳng còn tác dụng gì bao nhiêu vì nó đang bận chém giết, bao vây bắt bớ rồi.

– Tuần, Triệt ở Thân, Mệnh có thể tốt, có thể xấu. Nên khi gặp quân hung ác thì “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Cho nên khi gặp trường hợp đó thì cuôc đời đừng nên vỗ ngực xưng danh đòi làm chủ nhân ông làm gì, cứ đứng ở hậu trường mà chỉ tay năm ngon như cụ Trạng Trình, cụ Nguyễn Thiếp, cụ Đào Duy Từ, cụ Ngô Đình Nhu là cũng tạm ổn một đời rồi.

– Giữa hai cung của Tuần, Triệt. Bên nào nặng, nhẹ ??? ToThiếnBut nà lỡ dang dến cái vận hạn “Cự, Đồng phùng La, Võng ngộ Khoa tịnh” nên nói toạt ra cho sướng cái mmiệg vậy. Hà cớ gì mà phải tâm thiên lương địa, phải nhị bát, phải tam thất, phải tuổi tác âm dương cho nó cực cái thân hơn. Cứ xem cái hạn của Cục, của Mệnh,c ủa Tuổi, của Sao hằng năm (như năm gặp sao Thái Bạch, Thái Dương, gặp Tam Tai..vv ..) nó nằm ở cung nào thì cung đó phải bị ảnh hưởng nhiều hơn vậy.

Những cái biết trong lúc “trà dư tửu hậu” đã tuông sém hết rồi. Còn lại cái thực là phải có cái chuẩn, phải có những câu “Phú” để “chứng cứ” thì mới đưa được cái đám Tuần, Triệt ra Pháp đình xử, chứ bèn không nó chối phăng phét, nó làm như là nó chưa có tiền án tiền sự gì thì làm sao mà mình kết án cho nó tâm phục khẩu phục.

MỘT SỐ CÂU PHÚ LUÂN BÀN VỀ HIỆU LỰC TRIỆT, TUẦN .


– Triệt Tuần đóng tại Ách cung, Rai nào cũng khỏi nạn nào cũng qua

– Tương quân ngọ Triệt trước miền, Ra đường gặp giặc mình liền tan thây

– Sát tinh hung dieu, Triệt đẩu cư lai, bất cập a hành, nan phùng tai ách vân lại (không e sợ lũ hung ác sát chi cả)

– Manh Triệt, Thân Tuần, tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đai.

– Manh Tuần, Thân Triệt hỉ đắc văn đoàn chi hội, phú quí văn tài cánh phát chung niên.

– Thiên phủ gặp Tuần là kho rỗng, gặp Không vong trở thành hung họa.

– Thiên phủ lâm Tuần, Triệt suy vì tiền tài.

– Phúc vô chính điệu tu cần Không tú Tuần) kỵ ngộ Triệt tinh.

– Âm, Dương, Tuần, Triệt tại tiền, Mẹ cha định đã chơi tiên thuở nào.

– Mệnh, Thân dù có lâm Không, Kiep, Gia Triệt, Tuần chẳng khiếp tai nguy.

– Triệt ,Tuần ngộ Mã, Hình Thê vị, Vợ bỏ chồng đào tỵ tha phương.

– Cung Huynh đệ Triệt, Tuần xung củng, Chim đâu đà bay bỗng xa chơi.

– Triệt, Tuần đóng tại cung Điền, Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho.

– Thê cung Tuần, Triệt khắc xung, Thiên hư bất chính cả hai vợ chồng.

– Mão, Thìn nhộ Triệt Tà dương, Phải phòng bếp núc trong nhà lôi thôi.

– Mệnh viên mà hội với Tuần, Lại thêm Hoá kỵ rõ ràng sứt môi.

– Tuần,Triet duong dâu thieu nien tân khổ .

– Tuần, Triệt cư Phụ mẫu xuất ngọai phương khả thành danh.

– Tuần, Triệt bất khả ngộ Lộc tồn, tư cơ phá hoại.

– Triệt, Tuần Diên, Mệnh cha truyền tay không.

– Thân hội Di cung, Triệt, Tuần hãm nhập,vãn tuế hồi hương phương túc cát, nhược hựu kiến sát tinh, sự nghiệp viên thành xứ ngoại.

– Thân cư Quan lộc hội sát diêu Triệt, Tuần nữ mệnh nạn bảo thanh danh.

– Thân cư Thê vị Tuần, Triệt lai xâm, Thiếu niên ai lệ nãi thất tình.

– Tử vi mà gặp không vong là đế ngộ hung đồ.

– Hình phùng Tuần, Triệt, phá khủng tao hoạn hoạ chi nhân.

– Hai tù tinh Liêm, Tham Tỵ Hợi, Ngộ Triệt, Tuần phản hữu kỳ công .

Triệt: hành Kim đới Thủy
Tuần: hành Hỏa đới Mộc

Ý nghĩa:

Triệt: là chém ra thành từng mảnh
Tuần: là vây hảm, có tác dụng kìm hãm, ngăn chặn, cản trở

Triệt Tuần ảnh hưởng lên các hành của sao:

Nói chung:

Hành Kim, Hỏa và Mộc: bị ảnh hưởng mạnh nhất
(Hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần,
Hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt)
Hành Thủy: bị ảnh hưởng ít hơn
Hành Thổ: bị ảnh hưởng yếu nhất

Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt theo thời gian:

Triệt mạnh ở 30 năm đầu (tùy theo cục, ví dụ Thủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó yếu đi
Tuần mạnh ở 30 năm sau (tùy theo cục), trước đó thì yếu

Cường độ ảnh hưởng của Triệt Tuần tác dụng lên các cung
Nguyên tắc: người Dương (Dương Nam, Dương Nữ) thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm
người Âm (Âm Nam, Âm Nữ) thì cung Âm chịu ảnh hưởng mạnh hơn cung Dương
Cứ thế ước lượng:
Dương Nam. Dương Nữ: cung Dương chịu 70% , cung Âm 30% cường độ ảnh hưởng
Âm Nam, Âm Nữ: cung Dương chịu 20%, cung Âm 80% cường độ ảnh hưởng

Ảnh hưởng:

Sao đắc vượng miếu gặp Tuần Triệt mất hết ý nghĩa tốt đẹp vì bị khắc chế
Sao hãm địa gặp Tuần Triệt thì lại trở thành tốt, là phản vi kỳ cách (nhưng phải trãi qua gian nan mới tốt được)
Đặc biệt: Thiên Tướng, Tướng Quân (dù đắc hay hãm) rất kỵ Tuần Triệt, kỵ Triệt hơn Tuần.
Thiên Phủ kỵ gặp Tuần
Cự Cơ (Cự Môn, Thiên Cơ) Tí Ngọ rất cần gặp Tuần Triệt
Nhật Nguyệt hãm địa gặp Tuần Triệt thì sáng lên, vượng miếu gặp Tuần Triệt thì tối lại

Tuần Triệt tác đong đến các cung:

ví dụ Tật Ách rất cần Tuần Triệt
Phúc cung vô chính diệu rất cần Tuần nhưng lại kỵ Triệt
Phu Thê gặp Tuần Triệt la trắc trở tình duyên.
Triệt đóng tại một cung có các sao xấu chiếu về cung đó thì có khả năng cản lại các nguy hiểm do các sao xấu chiếu về (Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng)

Vai ví dụ

Thiên Cơ (Mộc), Thiên Lương (Mộc) miếu địa rất kỵ Tuần Triệt nhưng nếu hãm địa thì rất cần Tuần Triệt.
Thái Âm sáng sủa gặp Tuần Triệt thì đỡ bị ảnh hưởng hơn so với Thái Dương sáng sủa
Sát Phá Tham hãm địa rất cần Tuần Triệt, đắc vượng miếu kỵ gặp Tuần Triệt, nhất là Sát và Tham (còn Phá Quân thì đỡ bị ảnh hưởng).
Liêm Tham Tỵ Hợi hãm địa thì gặp Tuần Triệt rất tốt
Thiên Đồng (Thủy) đắc vượng miếu cũng không sợ Tuần Triệt lắm, hãm thì lại cần Tuần Triệt
Vũ Khúc (Kim) đắc vượng miếu rất kỵ Tuần Triệt
Các sao Thổ như Tả Hửu, Thiên Quí, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Phúc, Thiên Qui, Tam Thai ít bị ảnh hưởng của Tuần Triệt nhất
Các sao Thủy như Hóa Khoa, Văn Xương, Hóa Kỵ, Long Trì, Song Hao, Hồng Loan, Bát Tọa ít chịu ảnh hưởng của Tuần Triệt
Các sao Mộc, Kim, Hỏa như Kình Đà, Không Kiếp, Hỏa Linh, Thiên Không, Thiên Hình, Kiếp Sat’ Tang Môn, Bạch hổ , Đào Hoa, Khôi Việt, Hóa Quyền Thiên Mã, Phượng Các, Ân Quang, Cô Quả, Thiên Quan chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Tuần Triệt
Ví dụ Mệnh Tử Vi Thiên Tướng cư Thìn (ở Dương cung) bị Tuần.
Ví dụ là Tuần nên ở 30 năm đầu chưa bị tai họa (tai nạn, bệnh tật…)
Thiên Tướng bị ảnh hưởng mạnh hơn Tử Vi

Dương Nam, Dương Nữ :
– Chịu 70% tác động của Tuần, do đó sau 30 tuổi dể bị tai họa lớn

Âm Nam, Âm Nữ:
– Chịu 20% tác động của Tuần nên sau 30 tuổi có gặp tai họa cũng không mạnh được (Chỉ nêu đại cương, còn phải xét Thân, Mệnh, Phúc, Tật và Đại hạn mới quyết định được)
Ví dụ Mệnh Liêm Tham cư Tý (cung Âm) là cách hình ngục nan đào gặp Triệt,
Vì là Triệt nên 30 năm đầu có tác động mạnh cho nên Cả hai sao đều bị ảnh hưởng mạnh của Triệt.

Dương Nam, Dương Nữ:
– Chịu 30 % tác động của Triệt. Sau 30 tuổi phải đề phòng tù tội

Âm Nam, Âm Nữ:
– Chịu 80 % tác động của Triệt nên không có gì xãy ra 30 năm đầu. Sau đó thì đề phòng nhưng mức độ tù tội nhẹ hơn
Ví dụ Thất Sát (Kim) cư Dần (Dương cung) gặp Tuần, Dương Nam thi chịu 70% ảnh hưởng, 30 năm đầu tuy có bị ảnh hưởng nhưng không đến nỗi nào, sau 30 năm thì bị tác động mãnh mẽ, bị tai nạn hoặc bị bệnh tâm thần…..

Tuần Triệt trong Tử Vi giống như hiện tượng những lỗ đen trong vũ trụ. Lỗ đen chính là những vùng tập trung năng lượng vật chất cực kỳ cao có lực hấp dẫn vô cùng lớn. Tất cả mọi năng lượng, ánh sáng của các sao hay vật thể bay qua, rơi vào lỗ đen đều bị hút chặt lại. Chính vì điều đó Tuần Triệt không phải là sao mà chỉ là vùng mà khi các sao sáng bay vào thì năng lượng tốt đẹp của chúng bị hút mất nên những đặc tính tốt bị kém đi, những sao mờ ám xấu xa, những hung tinh bay qua cũng mang theo những tính chất xấu, hung hoạ phá tán cũng bị hut mất những đặc tính này. Điều đó cho thấy những sao chính tinh miếu địa sáng sủa rơi vào cung có Tuần Triệt thì những tính chất tốt của sao miếu vượng cũng bị hút mất nhiều, nhưng không có nghĩa là thành xấu xa, những sao hung, sát tinh bị hút mất bớt những đặc tính xấu chứ không làm chúng trở thành như những sao sáng sủa được là vậy. Như vậy những sao phúc thiện tinh như Khôi Việt, Quan Phúc, Quang Quý gặp Tuần Triệt cũng bị triết giảm bớt những đặc tính tốt và sức phù trợ cứu giải nhưng không phải đổi tính chất của chúng.

Tuần Triệt gỡ nhau cũng như vậy, khi Mệnh có Tuần hay Triệt đi đến đại vận gặp Triệt hay Tuần thì lực hút của chúng ngược chiều nhau (Tuần an theo Địa chi, đi hết 12 cung vừa vặn 60 năm đúng một vòng Giáp Tý, Triệt an theo Thiên Can, thay đổi vị trí hàng năm trên Thiên bàn, 10 năm đi hết 1 vòng) gây nên trạng thái gần cân bằng tại cung Tuần Triệt ảnh hưởng, do vậy những đặc tính của các sao được phục hồi và năng lượng ảnh hưởng phục hồi tác dụng theo như tính chất cũ trong khoảng thời gian ảnh hưởng của đại vận, tiểu vận.

(1) Nhận định lại căn tính của Tuần Triệt

Tuần Triệt có phải là Sao (tinh đẩu) không ?
Nếu Tuần Triệt là tinh đẩu thì đương nhiên Tuần Triệt sẽ có khả năng chiếu như các tinh đẩu khác. Nếu TT không phải là tinh đẩu thì Tuần Triệt không có khả năng chiếu.

Nếu Tuần Triệt không chiếu thì lý thuyết Tuần Triệt gỡ từ đâu ra ??
Nếu Tuần Triệt đóng cùng vị trí mà tháo gỡ lẫn nhau thì các sát baị tinh khác đóng cùng vị trí cũng có đặc tính này ??

Theo như ks thì Tuần Triệt không phải là tinh đẩu mà là 1 cửa ngõ (noí theo như Thiên Tướng thì Tuần Trung và Triệt Lộ là khoảng không gian) co’ khả năng bao trùm trên 2 cung và thay đổi đặc tính của các sao toạ thủ trong 2 cung đó . Sự thay đôỉ hay caỉ hóa cuả Tuần Triệt trên các sao chỉ có tính cách tương đôí chứ không tuyệt đôí . Khả năng cuả Tuần Triệt không dừng ở các tinh đẩu mà còn ảnh hưởng trên Âm Dương Ngũ Hành cuả cung bị Tuần Triệt chận đóng.

Thí dụ: Tham Lang hãm điạ tại cung Tí ngộ Triệt sẽ bị cải hoa’ trở thành ngay thẳng chính chuyên chứ TT không co’ khả năng biến Tham Lang trở nên miếu điạ được . Trường hợp ngoại lệ của Tuần Triệt , có 1 số Sao không bị ảnh hưởng và bị caỉ hóa bởi Tuần Triệt , đó là các Phúc Thiện tinh Hoá Khoa, Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang Thiên Quý,vv..vv

(2) Những yếu tố căn bản của cách thế Tuần Triệt gỡ

Mệnh có Tuần hay Triệt, Ðaị Hạn gặp Tuần Triệt thì được coi là cách Tuần Triệt gỡ. Thí dụ: Dương Nam, Mệnh ngộ Tuần, ÐH đến cung Quan có Triệt. Nếu là Âm Nam n hư thí dụ trên, ÐH đi ngược chiều kim đồng hồ không gặp Triệt thì không coi là cách Tuần Triệt gỡ, mặc dù Tuần Triệt ở thế Tam Hợp . Như đã nêu lên ở phiá trên, vì TT không phaỉ là Sao nên không chiêú, do đó không gỡ . Khi TT thaó gỡ thì không tháo gỡ luôn mà chỉ thaó gỡ trong khoảng thời gian hạn định, khoảng thơì gian này có thể là suốt Ðaị Hạn, hay là chỉ có 1 vaì năm hoặc là 1 vaì tháng trong năm .

Khi Tuần Triệt đóng vaò cùng 1 chỗ thì cường độ mạnh mẽ lên chứ không thaó gỡ , thủ tiêu (cancel) lẫn nhau; Ngoaị trừ trường hợp Tuần Triệt cố định gặp Lưu Tuần hay Lưu Triệt (sẽ bàn đến sau) … Trường hợp này thì có thaó gỡ nhưng không thaó gỡ hoàn toàn, có nghiã là chỉ thaó gỡ trong 1 khoảng khắc thơì gian ấn định chứ không thaó gỡ suốt vận hạn

(3) Không phaỉ lúc naò Tuần Triệt gỡ cũng tốt

Triệt được an theo Thiên Can (Dương), Tuần an theo Ðiạ Chi (Âm) nên Triệt sẽ có ảnh hưởng mạnh taị các cung Dương và yếu hơn taị các cung Âm; cũng thế Tuần sẽ tác động mạnh taị các cung Âm, và yếu hơn ở các cung Dưong . Theo cùng 1 chiều hướng lập luận đó, khi Tuần Triệt thaó gỡ thì : 2 cung ngộ Triệt sẽ được gỡ mạnh taị cung Dưong và gỡ yếu hơn taị cung Âm; còn 2 cung ngộ Tuần thì cung Âm sẽ được gỡ mạnh hơn taị cung Dương . Ðiều quan trọng là cần phaỉ minh xét cẩn thận các tinh đẩu thủ cung để xem Tuần Triệt gỡ là gỡ tốt hay là gỡ xấu

Lá số mẫu chia sẻ vơí các bạn, lá số này có cách Tuần Triệt gỡ mà mất mạng .

* Am Nam, 12 tháng 7 Ðinh Dậu (1957) giờ Mão

Mệnh ngộ Tuần có Thiên Tướng đắc Tứ Linh, Khôi Việt Quang Quý, Hổ Ðà Tuyệt (cách Tuyệt xứ phùng sinh) . Ðaị Hạn 36-45 tại cung Tử ngộ Triệt, Tuần Triệt gỡ, đến năm 1996 (Bính Tí chu Tuần Giáp Tuất) tận chung vì Ðaị Hạn có Hà Sát, Không Kiếp, Thiên Không , Lưu Tang Lưu Hổ, Lưu Hư Lưu Khốc; Còn Tiểu Hạn thì trong thế tam hợp ngộ Thiên Không Ðiạ Kiếp, Lưu Hư Lưu Khốc, Lưu Kình Lưu Ðà …. Số tận đang khi vận phát

Tuần và Triệt thực tế ra không phải là hai sao trong Tử Vi nhưng thường được gọi là hai sao cho giản tiện. Trường hợp này cũng giống như vòng Tràng Sinh hay được gọi là sao vậy

Ngũ hành của Tuần Triệt

Triệt thì hành Kim (đới Thủy), còn Tuần thì hành Hỏa (đới Mộc)

Ý nghĩa

Triệt là chém ra thành từng mảnh
Tuần là vây hãm, có tác dụng làm kìm hãm, ngăn chận, cản trở

Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triêt nói chung

Triệt tại cung Kim, Tuần tại cung Mộc và Hỏa thì có tác động mạnh hơn các nơi khác

Tỷ lệ ảnh hưởng của Tuần Triệt trên các cung

Tuần Triệt thì luôn luôn án ngữ hai cung và có cường độ ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theo nguyên tắc ước lượng như sau:

Người Dương (Dương Nam, Dương Nữ) thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm, cụ thể cung Dương chịu 70%, cung Âm chịu 30% cường độ

Người Âm (Âm Nam, Âm Nữ) thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượng cung Âm chịu 80%, cung Dương chịu 20%

Khi bị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nói bị chận đuôi

Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt theo thời gian:

Triệt ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt (như Thủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì là không có

Tuần thì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng mạnh sau đó

Hai yếu tố trên rất quan trọng nhưng thường bị coi thường khi coi về Tuần Triệt, nhất là khi coi đại hạn. Cường độ ảnh hưởng từ yếu đến mạnh tạm được sắp xếp theo thời gian như sau:

Dưới khoảng 30 tuổi

Tuần chặn đuôi
Tuần đương đầu
Triệt chặn đuôi
Triệt đương đầu
Trên khoảng 30 tuổi
Triệt chặn đuôi
Triệt đương đầu
Tuần chặn đuôi
Tuần đương đầu

Trong từng trường hợp trên thì cũng có diễn biến động của riêng nó, bởi vì quá trình thay đổi của Tuần Triệt là quá trình biến đổi, Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảm xuống. Như vậy trong trường hợp tuần chặn đuôi thì sẽ nhẹ nhất vào lúc 1 tuổi và mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi. Nhận định này nên được bổ xung chú ý khi coi đại hạn

Tuần Triệt là hai sao có rất nhiều ảnh hưởng được liệt kê dưới đây, có thể sự phân tích có những trùng lập nhưng để làm sáng tỏ vấn đề Tuần Triệt hơn

Ảnh hưởng của Tuần Triệt lên các cung:

Thông thường thì đóng tại cung nào thì Tuần Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bất kể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô Chánh Diệu trong trường hợp khống có hung tinh đắc địa hoặc tại Tật Ách thì hợp. Đây là điểm quan trọng bởi vì chưa cần coi các sao trong cung, người ta đã có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống vì thông thường Tuần Triệt đóng tại 4 cung trong tổng số 12 cung

Tuần Triệt đương đầu tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan (nhưng nếu gặp chính tinh lạc hãm thì đỡ hơn), tại Thân thì khi lập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu. Nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnh đồng cung gặp Tuần Triệt đương đầu thì coi như nếu có sự nghiệp trước 30 tuổi thì phải bị gãy đổ rồi bắt lại từ đầu trong giai đoạn lập thân

Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường nghề nghiệp như lận đận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng. Tùy theo bị chặn đuôi hoặc đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay không. Vì quan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệt giữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận

Tuần Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không, trừ khi vào đại vận tốt, và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Tạo lập điền sản rất quan trọng trong giai đoạn lập thân nên, do đó gặp Tuần thì nên chú ý. Dù gì đi chăng nũa mà bị Tuần Triệt thì hầu như khó giàu có lớn được trừ trường hợp VCD đúng cách (ví dụ có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu)

Tuần Triệt đóng tại cung Thiên Di thì ra ngoài không lợi, ly hương thì tốt hơn

Tuần Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹ để lại, phải tự lập và thường bị gặp trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Tạo lập điền sản rất quan trọng trong giai đoạn lập thân nên, do đó gặp Tuần thì nên chú ý. Dù gì đi chăng nũa mà bị Tuần Triệt thì hầu như khó giàu có lớn được trừ trường hợp VCD đúng cách (có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu)

Tuần Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gần nhau, thường phải ly hương

Tuần Triệt đóng tại cung Phối thì gây trục trặc cho tình duyên hôn nhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ, lập gia đình sớm thì gia đạo bất hòa dễ trục trặc dễ đưa đến chia ly, hoặc là yếu tố đưa đến không chồng không vợ. Cung Phối xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn Triệt vì gặp Tuần thì về sau gia đạo dễ hạnh phúc hơn Triệt. Cung Phối đẹp đẽ gặp Triệt thì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống với nhau được…

Tuần Triệt đóng tại cung Nô thì bạn bè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền

Tuần Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho vấn đề con cái như không con, muộn có con, sinh con đầu lòng khó nuôi, con không hợp với cha mẹ

Tuần Triệt đóng tại cung Bào thì anh chị trưởng dễ chết sớm hoặc cùng khổ cô đơn, hoặc không gần nhau, hoặc dễ không hòa thuận

Tuần Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chăn đuôi thì suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít tai họa, tránh được tai họa trừ khi có sao kỵ Tuần Triệt như Thiên Tướng Tướng Quân thì nếu tai họa quá lớn thì lại đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng

Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì ly hương mới dễ làm nên hơn là ở gần cha mẹ, không hợp với cha hay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ. Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạn thiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽ

Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần xét kỹ thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng

Trường hợp Tuần Triệt đồng cung thì ảnh hưởng coi như ảnh hưởng liên tục. Như vậy nếu Tuần Triệt đồng cung tại Phối Tử thì là một bất hạnh trong cuộc sống gia đình, tại Điền Quan thì sự gây dựng sự nghiệp khó khăn, tại Phụ Phúc thì số tự lập, ly hương, bạc phúc…

Ảnh hưởng của Tuần Triệt đối với hành của sao

Sử dụng sự sinh khắc ngũ hành giữa hành của Tuần Triệt với hành sao tọa thủ, lấy hành của Tuần Triệt làm chủ, ta có thể nói rằng:

Nhìn chung thì hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặng nhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần (vì Triệt Kim khắc Mộc trong khi đó Mộc sinh Tuần Hỏa) và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt (vì Tuần Hỏa khắc Kim trong khi đó Triệt Kim và Kim đồng hành), hành Thủy ít bị ảnh hưởng hơn (vì Triệt Kim sinh Thủy và Thủy khắc Hỏa Tuần), hành Thổ bị ảnh hưởng ít nhất (vì Tuần Hỏa sinh Thổ và Thổ sinh Triệt Kim)

Như vậy nếu chỉ xét về phương diện ngũ hành thì các sao Thổ nhu Ta Huu, Thien Qui, Loc Ton, Hoa Loc, Thien Phuc, Thien Qui, Tam Thai it bi anh huong cua Tuan Triet nhat, cac sao Thuy nhu Hoa Khoa, Van Xuong, Hoa Ky, Long Tri, Song Hao, Hong Loan, Bat Toa it chiu anh huong cua Tuan Triet, cac sao Moc, Kim, Hoa nhu Kinh Da, Khong Kiep, Hoa Linh, Thien Khong, Thien Hinh, Kiep Sat, Tang Mon, Bach Ho, Dao Hoa, Khoi Viet, Hoa Quyen Thien Ma, Phuong Cac, An Quang, Co Qua, Thien Quan chiu anh huong manh me cua Tuan Triet

Ảnh hưởng của Tuần Triệt đối với các loại tinh đẩu:

Đối với chính tinh thì bị ảnh hưởng mạnh hơn phụ tinh (phàm cái gì càng mạnh mẽ thì càng bị ảnh hưởng của Tuần Triệt), trong đó Sát Phá Liêm Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất

Về tính chất thì hung sát bại tinh (như Sát Phá Liêm Tham, Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát…), tài tinh (Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc), quí tinh, quyền tinh (Thiên Tướng, Hóa Quyền, Quốc Ấn…), đào hoa tinh hay dâm tinh (Hồng Đào Riêu Thai…) bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh (Quang Quí, Quan Phúc…), trợ tinh (Tả Hữu)…lục bại tinh (Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư)

Tuần Triệt không làm thay đổi tính chất của hung tinh, cát tinh như biến hung tinh thành cát tinh, biến các tinh thành hung tinh mà thực chất thay đổi cường độ hành khí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm

Các trường hợp đặc biệt cần lưu ý:

Thiên Tướng, Tướng Quân tối kỵ gặp Tuần hay Triệt cho dù là đắc hay hãm. Thiên Khôi kỵ Triệt hơn Tuần nhưng cần phối hợp các yếu tố khác khi luận đoán tốt xấu

Nhật Nguyệt đắc hãm gặp Tuần Triệt thì sáng lên, gặp Tuần hay hơn Triệt.

Nhật Nguyệt miếu vượng gặp Tuần Triệt thì tối lại

Cự Cơ Tí Ngọ rất cần Tuần Triệt

Thiên Phủ kỵ Tuần hơn Triệt, gặp Tuần ví như kho trống không, trong khi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt

Ảnh hưởng của Tuần Triệt đến vấn đề miếu hãm

Sao đắc vượng miếu gặp Tuần Triệt thì giảm hoặc mất hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm

Sao hãm địa gặp Tuần Triệt thì lại bớt xấu đi, hoặc trở thành tốt, là phản vi kỳ cách (đặc biệt cho Sát Phá Liêm Tham hãm địa) nhưng phải trải qua gian nan mới tốt được

Chú ý rằng quá trình thay đổi ảnh hưởng từ xấu qua tốt hoặc ngược lại là quá trình chuyển biến nên một sao cho dù sáng lại do ảnh hưởng của Tuần Triệt cũng không toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một sao bị tối đi do ảnh hưởng của Tuần Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chất là tối hãm.

Ảnh hưởng đến các cung tam hợp xung chiếu

Tuần Triệt chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến cung tam hợp xung chiếu. Sao tại cung bị Tuần Triệt án ngữ bị thay đổi tính chất nên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần Triệt. Cách VCD có Tuần Triệt chiếu thiết tưởng chỉ là để nói có Tuần Triệt tại các cung tam hợp xung chiếu mà thôi)

Triệt có tác động cản trở tất cả các hung tinh chiếu về bản cung, không sợ nguy hiểm do các sao này gây ra (Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng). Tuần thì cản không được mạnh nên vẫn còn bị nguy hiểm phần nào

Tại bản cung có chính phụ tinh hãm địa nếu bị Triệt án thì cũng không đáng lo ngại vì họa hại do chính phụ tinh hãm địa gây ra. Nếu chính phụ tinh sáng sủa thì tùy trường hợp mà luận đoán sử dụng các nguyên tắc coi trên
Tuần Triệt tại cung Vô Chính Diệu (coi phần Vô Chính Diệu)

Tuần Triệt tháo gở

Đây là quan điểm do cụ Thiên Lương đưa ra. Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo gở ảnh hưởng của Tuần hay Triệt
Tuần Triệt gặp sao Lưu

Tuần Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Tuần Triệt đồng cung sẽ giảm đi

Triệt tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Triệt tăng lên

Tuần tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Tuần giảm đi

Tóm lại, ngoại trừ trường hợp ngoại lệ, mọi tinh đẩu đắc vượng miếu không nên bị Tuần Triệt án ngữ, tinh đẩu hãm địa rất cần Tuần Triệt cứu giải cái xấu. Khi bị Tuần Triệt án ngữ cần chú ý là bị Tuần Triệt đương đầu hay chặn đuôi và để ý thời gian.

Khi chính tinh sáng sủa hợp Mệnh (như sao sinh Mệnh hay đồng hành) thì không nên bị Tuần Triệt đưa đến phá cách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần Triệt thì càng xấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần Triệt phá hỏng. Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần Triệt cũng đỡ xấu hơn trường hợp trên

Khi chính tinh lạc hãm khắc Mệnh thì cần được Tuần Triệt án ngữ, trường hợp này lại hay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần Triệt. Nói chung là nếu càng xấu về vị trí ( bị hãm) và tương quan ngũ hành (bị khắc) thì gặp Tuần Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan ngũ hành thì gặp Tuần Triệt càng xấu. Một số người đã diễn tả điều này bằng cách nói Tuần Triệt thay đổi ngũ hành của cung

Vài ví dụ phân tích

Thiên Cơ (Mộc), Thiên Lương (Mộc) miếu địa rất kỵ Tuần Triệt (vì hành Mộc) nhưng là phúc tinh nên cũng đỡ lo ngại, kỵ Triệt hơn Tuần.Trẻ tuổi gặp Tuần chặn đuôi thì cũng khá tốt

Thiên Cơ (Mộc), Thiên Lương (Mộc) nếu hãm địa thì rất cần Tuần Triệt.

Thai Ám sáng sủa gặp Tuần Triệt thì đỡ bị ảnh hưởng hơn so với Thái Dương sáng sủa do hành Thủy

Sát Phá Liêm Tham hãm địa rất cần Tuần Triệt (vì hành là Kim, Hỏa, Mộc và là hung sát tinh)

Sát Phá Liêm Tham đắc vượng miếu kỵ gặp Tuần Triệt vì là hung tinh hành Kim Hỏa Mộc, nhất la Sát và Tham (còn Phá Quân thì đỡ bị ảnh hưởng).

Liêm Tham Tỵ Hợi hãm đia thì gap Tuần Triệt rất tốt, giảm thiểu nhiều tai họa tù tội

Thiên Đồng (Thủy) đắc vượng miếu cung không sợ Tuần Triệt lắm vì là phúc tinh hành thủy, hãm thì lại cần Tuần Triệt
Vũ Khúc (Kim) đắc vượng miếu kỵ Tuần Triệt vì là tài tinh hành Kim

Không Kiếp Tang Hổ đắc thì không nên gặp Tuần Triệt vì là hung tinh đắc đia hành Hỏa, Kim, Mộc mất hết ảnh hưởng hay đẹp

Ví dụ:
Mệnh Tủ Vi Thiên Tướng cư Thìn (ở Dương cung) bị Tuần. Thiên Tướng bị ảnh huỏng mạnh hơn Tử Vi vì là hành Thủy và do bản chất kỵ Tuần Triệt của nó. Vì là Tuần nên 30 năm đầu chưa bị tai họa (tai nan, benh tat…) vì ảnh hưởng Tuần chưa mạnh. Dương Nam, Dương Nữ thì bị Tuần đương đầu, do đó sau 30 tuổi dễ bị tai họa lớn. Âm Nam Âm Nữ thì bị Tuần chặn đuôi nên sau 30 tuổi có gặp tai họa cũng không mạnh được. Mệnh Thổ (ăn sao Tử Vi, khắc sao Thiên Tướng) đỡ bị ảnh hưởng xấu hơn (Tử Vi gặp Tuần không đáng sợ bằng Thiên Tướng) Mệnh Thủy (ăn sao Thiên Tướng mà Tướng lại sáng sủa, khắc sao Tử Vi) (chỉ nêu đại cương khả năng xảy ra, còn cần xét trong bối cảnh Mệnh Thân Phúc Đại Hạn mới quyết định được) ; ;

Ví dụ:
Mệnh Liêm Tham cư Tỵ (cung Am) la cach hinh nguc nan đào gap Triet. Vi la Triet nen 30 nam dau co tac dong manh. Ca hai sao deu bị ảnh huởng mạnh của Triệt vì là hung tinh hành Hỏa và Mộc. Duong Nam, Duong Nu thì chiu 30 % tac dong cua Triet, sau 30 tuoi phai de phong tu toi. Am Nam, Am Nu chiu 80 % tac dong cua Triet nen khong co gi xay ra 30 nam dau. Sau do thi de phong nhung muc do tu toi nhe hon

Vi du:
Thât Sat (Kim) cu Dan (Duong cung) mạng Kim gap Tuan, Duong Nam thi chiu 70% anh huong, 30 nam dau tuy co bi anh huong nhung khong den noi nao, sau 30 nam thi bi tac dong manh me nen bi tai nan hoac bi benh nhu bệnh tam than

Cự Cơ Mão Dậu gặp Song Hao thì là phú cách nhưng gặp Tuần Triệt thì lại là phá cách

Trích một vài đoạn trong Thần Khê Định Số của cụ Lê Quý Đôn


Đại Hạn Trong Tử Vi

1. Gốc đại hạn trong tử vi 

Yếu tố làm cho các tiểu hạn trung nhau thành ra khác biệt nhiều là do gốc đại hạn thay đổi, vì khi đoán tiểu hạn điều tiên quyết là phải xét đến đại hạn lúc đó được coi như là một cung Mệnh thứ hai di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn, nhưng ta vẫn không thể quên lãng cung Mệnh khi giải đoán. Để cho được linh động và bớt khô khan tôi tránh việc nêu ra các nguyên tắc và chỉ nêu ra dưới đây nhiều thí dụ điển hình:

TÌM HIỂU VỀ CÔ THẦN, QUẢ TÚ Ở 12 CUNG

HAI SAO CÔ THẦN, QUẢ TÚ

Cô Quả tại Mệnh, Thân

Bình thường nếu hai sao này chiếu Mệnh Thân thì đúng như các sách tử-vi đã ghi, nghĩa là chủ về cơ đơn, khắt khe, lạnh lùng, kỹ lưỡng, câu nệ, đa nghi…Nhiều người còn phân biệt “nam Cô, nữ Quả” cho rằng đàn ông kỵ Cô Thần, đàn bà kị Quả Tú tại Mệnh, nhưng rồi nghiệm thấy rằng vì hai sao này bao giờ cũng chiếu nhau cho nên Mệnh Thân nếu có bất luận sao nào cũng bị ảnh hưởng theo những nghĩa trên đây, chỉ có khác vấn đề nặng hay nhẹ mà thôi. Tôi chưa thấy một người đàn bà nào mạng có Cô Thần mà sung sướng về tình cảm, hôn nhân, hoặc một người đàn ông nào có Quả Tú mà thoải mái về hạnh phúc vợ chồng (trừ trường hợp đặc biệt dưới đây), đấy là chưa kể tới trường hợp gặp thêm sao Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn là những sao cũng chủ về cô đơn. Chỉ có một sự khác biệt nhỏ là nếu gặp đúng sao kỵ mình thì thời gian trắc trở hoặc xa cách dài hơn, hoặc đau thương hơn. Ngoài ra tôi cần nói thêm rằng khi Mệnh Thân đã có một trong hai sao này thì đừng ham có sao Đào Hoa đồng cung để chế hóa bớt. Vì như thế còn tăng thêm sự khó khăn về tình yêu , hôn phối (Cô Quả thuộc Hành Thổ- có sách nói thuộc Hỏa – không hợp với Đào Hoa thuộc Mộc, và nếu Cô Quả là Hỏa chăng nữa cũng không tốt, vì Đào Hoa là Mộc sinh Hỏa thì lại càng tăng thêm sự cô đơn hơn nữa) hãy mong Đào Hoa ở cung khác để vớt vát được phần nào lãnh vực tình cảm (như ở Thiên Di chẳng hạn). Nếu trường hợp trên có thêm Hóa Kỵ đồng cung nữa thì thực là bất hạnh vì sẽ trở thành người đồng tính luyến ái…
Như vậy chắc là hai sao Cô Quả chiếu mạng, Thân toàn là xấu chăng? Tôi xin thưa ngay là không. Nếu quý bạn gặp trường hợp Cô Quả hội đủ bộ sao tốt, quyền quí như bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Quang Quý, Long Phượng, Khôi Việt, Khoa, Quyền, Lộc… thì phải nói rằng Cô Quả đã đứng đúng chỗ, đã có môi trường làm cho công danh của mình lên cao mạnh mẽ. Đó là cách vua chúa, lãnh tụ, chỉ huy (vua chúa ngày xưa, nhất là trong các truyện Tàu, thường tự xưng là cô- gia hoặc quả-nhân), nhưng có điều là độc tài thái quá vì hai sao Cô Quả lúc đó chủ về “duy ngã độc tôn” rồi. Còn vấn đề cô đơn thì gần như không có xẩy ra, vì Cô Quả đã có môi trường khác (vua chúa ngày xưa có bao nhiêu cung tần mỹ nữ không có lẽ còn bị cô đơn).
tử vi thiên lương 

Cô Quả tại Phụ Mẫu

Nhiều vị đoán tử vi cho rằng hai sao này khi ở cung Phụ Mẫu có nghĩa là cha mẹ ít khi sống gần nhau hoặc dễ bị ly di, nhưng theo kinh nghiệm riêng tôi nhận thấy trường hợp cung Phụ Mẫu có Cô Quả thường chủ về:
- Cha hoặc mẹ ít anh em trai (không kể gái), nhất là khi có thêm Vũ Khúc hoặc Lộc Tồn đồng cung. Nếu có Thái Dương đồng cung thì chắc chắc cha ít anh em trai, nếu có Thái Âm thì chính mẹ ít anh em trai :
- Cha hoặc mẹ là con trưởng trong gia đình, trong trường hợp có nhiều em trai, nhất là khi có Tử-Vi hoặc Thiên Phủ hội Hóa Quyền hoặc Khôi Việt đồng cung. Về điểm muốn phân biệt cha hoặc mẹ thì có vị cho rằng khi Tử-Vi hoặc Thiên Phủ cư cung Dương thì cha là con trưởng, còn cư cung Âm là mẹ. Tuy nhiên điểm này tôi nghiệm thấy không đúng mấy. Chỉ dễ đoán khi có Nhật hay Nguyệt. Nếu 4 sao trên đều không có thì hơi bí.
Trường hợp cả hai điểm trên đây đều không ứng nghiệm, thì đành phải đoán rằng lúc đương số ra chào đời, cha mẹ bị tang tóc hoặc xa cách nhau một thời gian ngắn, nhất là có Thiên Mã ngộ Tuần Triệt. Nếu có Thái Dương thì cha đi xa hay có tang, nếu có Thái Âm thì chính là mẹ. Còn Nhật Nguyệt đồng cung thì tùy theo sinh ngày hay đêm, nhưng trường hợp này lại không bao giờ có Thiên Mã vì Mã chỉ cư Dần Thân, Tỵ, Hợi chứ không cư Sửu Mùi được.


Cô Quả tại Phúc Đức

Về cung này, các sách đều nói là trong giòng họ hiếm người nhưng tôi nghiệm thấy nhiều trường hợp không phải hiếm người, mà thực ra vì dòng họ phân tán đi các nơi nên mới hiếm, hoặc là có trường hợp không phân tán thì mạnh ai người ấy sống, chẳng ai giúp ai được việc gì, anh em “kiến giải nhất phận”. Ngoài ra, tôi cần nói thêm rằng nếu có thêm Đào Hồng, Nhật Nguyệt hội chiếu thì phải đoán rằng trong dòng họ có nhiều đàn bà hiếm con trai, hoặc sống trong cảnh góa bụa, độc thân suốt đời. Tôi chưa nghiệm được sao gì thì chủ về đàn ông trong giòng họ bị như vậy, tuy có vị cho rằng khi có Nam Đẩu Tinh (chính tinh) thì chủ về đàn ông, nhưng nhiều khi sai.
Cũng vì 2 sao này có ý nghĩa nêu trên, cho nên khi cung Phúc Đức của mình nếu có Cô Quả thì tuyệt đối mình không nên sống chung đụng với họ hàng, kể cả anh em ruột thịt để tránh sự hiềm khích, va chạm có thể đi tới chỗ tuyệt tình. Ở xa thì 2 sao này đã có môi trường hoạt động nên trong giòng họ có thể thuận hòa với nhau được, tuy không ai hết lòng với ai.


Cô Quả tại Điền Trạch

Thường thường trong các sách tôi đã có dịp đọc, tôi nhận thấy sách nào cũng chỉ nói rằng: Cô Quả rất lợi ích cho cung Điền và Tài (Cô Quả yếu thủ Điền Tài) mà thôi, nhưng tôi cho rằng cần phải phân biệt như sau để biết lợi hại ra sao:
- Nếu Cô Quả hội với nhiều sao tốt như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Hóa Quyền, Long Phượng, Thai Tọa, Khôi Việt, Đào Hồng (nhưng cần Mệnh là Hỏa hoặc Thổ mới tốt) thì có nghĩa là mình có biệt thự khang trang, nguy nga, đồ sộ, có vườn cây xung quanh, ở nơi thanh tịnh, biệt lập, vì Cô Quả lúc đó ứng vào cô-gia, và vẫn có nghĩa giữ vững được nhà cửa lâu dài. Như thế mới thực là tốt đẹp. Cũng có khi ứng vào việc mua bán nhà với một người góa, hoặc được thừa hưởng tài sản nhà cửa của chú bác, cô dì không có con thừa tự (với điều kiện cung Điền có chính tinh tốt và hợp mệnh, đồng thời không bị Tuần Triệt án ngữ).
- Còn trường hợp Cô Quả hội với các sao xấu, hãm địa, khắc Mệnh và cung Mệnh Thân, Tài Quan cũng không được tốt thì thực là bất hạnh, nghĩa là mình phải ở một căn nhà lụp xụp, vừa ở nơi hẻo lánh, xa xôi (vùng ngoại ô chẳng hạn), mà lại không bao giờ bán đi được, như thế chứng tỏ là mình nghèo hèn suốt đời. Vì vậy đừng có thấy Cô Quả cư Điền đã vội mừng.

Tử vi thiên lương

Cô Quả tại Quan Lộc

Tôi không thấy trong các sách Tử-vi nói đến Cô-Quả ở cung Quan-Lộc một cách rõ rệt, do đó tôi lấy kinh nghiệm riêng mà bàn với quý bạn như sau:
- Bình thường Cô Quả ở cung Quan chủ về soi mình làm việc không có những người đồng liêu hoặc đồng nghiệp, đồng chí hướng với mình, mà đa số đều ích kỷ, hay giấu nghề, giấu việc. Nếu không thì chính những người trên của mình đều khắt khe, tỉ mỉ quá làm cho mình mất hết tự do, sáng kiến. (gặp trường hợp này mà xin thăng cấp, tăng lương chắc là hơi khó và hơi lâu).
- Bù lại, nếu Cô Quả gặp các sao quyền quý như Khoa Quyền Lộc, Tướng Ấn, Long Phượng, Quang Quý, Thai Tọa, Khôi Việt, Tả Hữu… thì lại rất tốt, như thế có nghĩa là mình làm chức lớn ngồi riêng một văn phòng đẹp đẽ, khang trang. (như bây giờ có máy lạnh là cái chắc), không phải ngồi chung với nhân viên, có điều gì cần là bấm chuông gọi.


Cô Quả tại Nô Bộc

Thường thường cung Nô Bộc nếu có bộ sao Cô Quả chiếu được giải đoán như sau:
- Nếu không hội với nhiều sao tốt, mình nên dùng những người dưới quyền góa bụa, độc thân, thì họ trung thành hơn. Nhất là trường hợp có thêm Thiên Hình, Đẩu Quân thì lại càng chắc chắn hơn nữa, nhưng những người này cần phỉa có mang tật gì ở thân thể (như vết thẹo ở mặt, chân, tây, mắt lé, thọt chân…) thì họ sẽ trở thành những người dưới quyền có lương tâm, làm ăn cẩn thận.
- Nếu hội với nhiều sao tốt, nhất là có thêm Hóa Quyền, thì người dưới tay, hay âm mưu phản phúc, lấn quyền một cách khéo léo, gián tiếp (vì lúc đó Cô Quả chủ về thâm trầm, ích kỷ, kín đáo…)
- Nếu hội với Nhật Nguyệt, lúc mình sa cơ thất thế, chẳng có đàn em nào giúp đỡ, đoái hoài tới, nhất là có thêm Hóa kỵ mà không có sao nhân hậu hội chiếu như Thai Tọa, Tả Hữu, Quan Phúc.


Cô Quả tại Thiên Di

Thường thường những người có địa vị cao trong xã hội ít khi có sao Cô Quả chiếu Thiên Di, vì những sao này chủ về vấn đề ít giao thiệp, ít người cộng tác, hoặc cùng nữa là chính mình không ưa giao thiệp rộng một điều trái ngược với cách làm lớn. Ngoài ra, về phương diện tình cảm, nếu Cô Quả chiếu Thiên Di lại hội với Đào Hoa, Hóa Kỵ thì hết hy vọng chinh phục được những người khác phái, dù cho mình đẹp trai hoặc có nhan sắc diễm lệ (đối với nữ) chăng nữa. Tôi đã từng được coi những người mệnh có nhiều sao thu hút được người khác phái (như Tham Lang, Đào Hồng Hỷ, Quang, Quý, Thanh Long….) mà lúc nào cũng bị thất bại trong vấn đề chinh phục người yêu, chỉ vì cung Thiên Di có Cô Quả (I) có chàng chinh phục được thì lại bị người yêu bỏ đi lấy chồng, vì gia đình bắt buộc, có nàng làm cho ý trung nhân say mê mình được thì đùng một cái bị một cô khác đẹp hơn cướp mất chồng tương lai của mình…, Vì vậy thanh thiếu nên nam nữ bây giờ nếu muốn có tài “thu hút” ở ngoài xã hội thì phải tránh được hai sao Cô Quả chiếu Thiên Di. Thà rằng hai sao này chiếu Mệnh còn đỡ hơn, vì như thế mình chỉ cô đơn khi ở nhà, còn khi bước chân ra ngoài là “hấp dẫn” (Nếu Thiên Di có Đào Hoa chẳng hạn).


Cô Quả tại Giải Ách

Vì Cô Quả là các sao tiết chế, giới hạn nên khi chiếu cung Giải Ách lại thành ra hay, có nghĩa là mình ít bệnh tật, tai nạn, nhất là khi hội với Thiên Không lại càng tốt thêm nữa. Tuy nhiên, vì hai sao này vẫn có tính cách, duy trì, gìn giữ nên mình vẫn dễ bị những bệnh tuy không hiểm nghèo nhưng triền miên suốt đời mà người ngoài không nhận thấy. Thí dụ như hội với Hóa Kỵ (tượng trưng cho bộ tiêu hóa, ruột) lại thêm Song Hao thì nhất định phải đeo bịnh đau bụng, khó tiêu, no hơi lu bù, vì Cô Quả dù là Hỏa hay Thổ cũng đều không hợp với Hóa Kỵ, là thủy và Song Hao nếu có là thủy chăng nữa vẫn không hợp với Cô Quả là Thổ ( thường thường ta đều cho rằng Song Hao thuộc Hỏa, và nếu như vậy còn hùa với Cô Quả khác Hóa Kỵ nữa). Ngoài những điểm trên, Cô Quả chiếu Giải Ách còn chủ về vấn đề ưu tư trong thâm tâm, những nỗi buồn xa xôi mà chỉ có tiềm thức của mình mới nhận thấy, và nhiều khi mình lại khó khăn với chính mình.


Cô Quả tại Tài Bạch

Trong khi Hóa Khoa được tôn là đệ nhất giải thần, thì Cô Quả được tôn là thần giữ của, cho nên ở cung Tài Bạch là hợp. Đó là một nhân định chủ quan quá, vì tôi đã nghiệm thấy những người muốn buôn to bán lớn cần phải có sự hùn hạp, cộng tác với người khác về tiền tài nếu có Cô Quả thì cứ khư khư giữ tiền làm sao có thể khuếch trương lớn, như vậy chỉ có thể giới hạn trong một tiệm buôn nhỏ hoặc một lãnh vực thu hẹp mà thôi. Nếu may ra có Phá Quân (cư Tý Ngọ mới tốt) hoặc Song Hao hội chiếu lại rất hay, vì như thế mỗi khi mình muốn tung tiền ra kinh doanh, bao giờ cũng chắc ăn, thận trọng nhờ sao Cô Quả.
Tuy nhiên, đối với những người không có óc thương mại, nếu Cô Quả lại hội với Thiên Phủ, Vũ Khúc ( đều tượng trưng cho kho chứa). Tướng Ấn, Tả Hữu, Thai Tọa… thì lại chủ về những người chuyên về giữ tiền bạc, tài chánh (nếu có thêm Song Lộc và một số cách tốt nữa có thể làm chủ ngân hàng). Nếu quý bạn làm giám đốc xí nghiệp, học cơ quan nào, nên giao cho những người có cách này giữ két bạc thì chẳng sợ thất thóat, sai lầm với điều kiện đừng có Hỏa Linh, Không Kiếp đi với Tham Lang chiếu cung Tài Bạch của những người đó.


Cô Quả tại Tử Tức

Chiếu cung Tử Tức ,Cô Quả thường chủ về một trong những điểm như sau ( ít khi ứng nghiệm cùng một lượt) :
- Con cái lúc mới sinh, nhất là đối với đứa đầu lòng, hay bị bịnh tật, tai nạn làm cho cha mẹ phải vất vả, lo âu. Nhưng khi lớn lên thì vẫn dễ nuôi nếu không có thêm hung sát tinh. Về điểm này có câu phú “Cô thần, Quả tú hai sao, gian truân vất vả về hài nhi sinh”.
- Sinh con trễ, nghĩa là sau khi lập gia đình thường thường không thai nghén liền, mà ít ra cũng phải nhiều tháng sau mới có tin mừng.
- Thận trọng và hay kiêng cữ để tiết giảm sinh đẻ. Nhưng cặp vợ chồng nào có Cô Quả tại cung Tử Tức, có thể áp dụng mọi phương pháp hạn chế sinh đẻ một cách hữu hiệu mà không trái số. Nếu thêm nhiều sao xấu đừng kiêng cữ nữa kẻo bị tuyệt tự.
- Nếu có nhiều sao văn học, quyền quý, con cái khi lớn lên hay ở xa cha mẹ, vì chức vụ, hoặc ngay trong thời gian đi học cũng dễ xuất ngoại hoặc ở nội trú.


Cô Quả tại Phu Thê

Cũng giống như trường hợp tại cung Phụ Mẫu, Cô Quả ở cung Thê Thiếp (hay Phu Quân) chủ về người vợ (hay chồng) ít anh em trai hoặc làm con trưởng trong gia đình. Ngoài ra hai sao này còn có nghĩa là vợ chồng, hay có thời gian xa cách nhau. Nếu có sao tốt là vì công vụ nghề nghiệp, nếu có nhiều sao xấu vợ chồng có thể bị cảnh chia ly vĩnh viễn. Trong trường hợp có sao tốt mà vợ chồng không bao giờ xa cách nhau thì phải hiểu rằng vợ chồng giữ gìn nhau rất chặt chẽ, khó lòng có chuyện ngoại tình nổi và nhất là cả đôi bên cùng độc đoán, cương quyết và đa nghi. Nếu có Đào Hồng đồng cung thì rất có thể gặp phải người dở duyên (nghĩa là có vợ hoặc chồng rồi) đang ở góa. Trường hợp Đào Hồng tại Mệnh Thân thì rất khó kết hôn sớm hoặc có sớm được cũng không bền, như sương đọng ban mai mà thôi. Đây mới đúng là cách “trăm mối tối nằm không”.


Cô Quả tại Huynh Đệ

Về cung này tôi chưa tìm ra được điều gì khác lạ, chỉ có điểm là anh em không nên sống gần nhau, hoặc phải có người sống xa cách hoặc vì ngoại cảnh gây nên (như vấn đề di cư khiến cho anh em kẻ nam người bắc chẳng hạn). Ngoài ra hai sao này cũng tiết chế bớt số anh em, chị em. Nếu có Đào Hồng, Thiên không thì chị em gái dễ bị dang dở, trắc trở nhiều lần về hôn phối, hoặc lấy chồng không cưới hỏi.
Trước khi chấm dứt bài này tôi thấy cần nêu ra một điểm nữa: nhiều người nhờ tôi coi dùm tử - vi có thành kiến xấu về hai sao Cô Quả đến mức là khi thấy tới Đại Tiểu Hạn có Cô Quả chiếu là đâm lo về vấn đề chia ly, cô đơn, hạnh phúc vợ chồng xáo trộn. Thậm chí có những quân nhân thấy gặp hạn Cô Quả là lo bị cắm trại 100% thực sự, bị đổi đi xa, bị giam giữ tại quân lao v..v…
Kể ra họ lo ngại như thế cũng đúng vì ít khi gặp hai sao này ở đại tiểu nguyệt hạn mà thật yên lành, ngoại trừ trường hợp có nhiều sao tốt hội chiếu thì có nghĩa là mình có chức lớn được ở phòng riêng (như đã nói ở cung Quan Lộc), được chính phủ cấp nhà ở, hoặc mình tạo được nhà ra ở riêng không sống chung với cha mẹ, anh em nữa, tùy theo trường hợp đại tiểu hạn liên hệ tới cung nào (về điểm này nên kết hợp địa bàn với thiên bàn mới đúng). Ngoài ra, dù biết rằng mình bị ảnh hưởng xấu của hai sao này rồi vẫn còn phải xét tới ngũ hành, nghĩa là xem Cô Quả (Thổ) nếu sinh mạng mình (như Kim chẳng hạn) hoặc khắc mạng mình (như Thủy) thì mới đáng ngại, còn trường hợp mạng mình khác hai sao đó thời vấn đề cô đơn, chia ly không còn đáng ngại nữa. Nếu mạng mình sinh hai sao là xấu nhất, thì mình đã bị tiết khí nhiều lại còn bị hai sao đó quặt ngược trở lại, thì kể như chắc chắn cô đơn, chia lìa nếu Mệnh Thân có thêm cách khắc khổ, cô độc (như có Vũ Khúc, Lộc Tồn, Kiếp Sát, Thái Tuế..v..v…).

Bạn có biết lá số tử vi là gì không?


Lá số tử vi là gì?



Vấn đề 1.
Vì sao gọi là lá số Tử vi, sao không gọi là lá số Thái Dương, Thái Âm,...., hay bất kỳ ngôi sao nào khác? Câu hỏi tức là câu trả lời vì ngôi sao Tử vi rất quan trọng....Vô luận đóng ở đâu thì bạn vẫn có một ngôi sao Tử vi riêng của mình. Dẫu không đóng tại mệnh, hay vòng hạn bạn không có được ngôi sao Tử vi tại chính cung (Đại hạn đang xét) thì trong tam hợp thì bạn đã và đang bước vào hạn Tử vi, ngôi sao Tử vi của mình. Do vậy, khi nhìn lá số hãy nhìn ngôi sao Tử vi - Nếu trong tam hợp mệnh mà bạn có Tử vi tức mệnh bạn đang có ngôi sao quan trọng này vậy!


Tử vi thiên lương


Vậy Tử vi nghĩa là gì?

Trước khi bạn trả lời hãy tự hỏi mình Tên thật là gì? Một cái tên không chỉ đơn thuần là một âm thanh phân biệt để gọi và hình thành phản xạ có điều kiện: "A ơi! minh nhờ cái....." thế là A quay đầu lại!

Một cái tên chưa biết bao sự tình trong đó: vì kỳ vọng, vì yêu thương, vì đánh dấu một sự kiện, một hồi ức cho một cuộc tình đẹp, ..., và không loại trừ cả sự thù hận khôn nguôi (....) thì cái tên dẫu sang trọng hay bình dân, thanh cao hay thô lậu, thì cái tên A vẫn hàm chứa ý nghĩa nhất định. Và vô luận một ngôi sao bất kỳ trong lá số đều hàm chứa ý nghĩa luận đoán trong ý nghĩa của tên ngôi sao đó các bạn ạ, ví dụ: Thiên Cơ: có nghĩa là đá, là cơ hội, là số, là ....., Thiên Lương là mái nhà chủ trên cao, là bóng mát, là lương thực......

Vậy Tử vi có ý nghĩa gì? Các bạn thử tìm hiểu nhé! Sách vở đầy rẫy đó nhưng bỏ qua một bên đi, chỉ tìm hiểu ý nghĩa tên Tử vi mà thôi cùng các ngôi sao khác.

Vấn đề 2.

Nhìn lá số Tử vi tức là nhìn người có lá số, nhìn những tác nhân (cũng là người xung quanh). Các bạn có công nhận cùng tôi: không có gì phức tạp bằng con người cả. Một sự kiện, mỗi góc độ có một cái nhìn khác nhau...Khi luận đoán tử vi ở tâm thế một trái tim yêu thương tức là bạn đang sống trong nội tâm người ấy. Và việc này theo tôi rất quan trọng, một lời luận đoán dẫu trúng cũng không thay đổi được số mệnh của người ta. Nhưng một tiếng nói mà phát hiện trong ẩn tàng của lá số, phát hiện và cảm thông lại là nguồn sinh lực giúp người khác thêm vững tin và nghị lực mới là điều cốt yếu.

Lấy ví dụ:

Mệnh lập tại Dậu: từ đây đếm xuôi theo chiều kim đồng hồ bạn xác định được các cung là Phụ, Phúc.....Huynh đệ. Thông thường các bạn khi xét một cung, đó là:

- Mệnh tại Dậu .....> cho nhận xét.
- Phụ tại Mão ........>Cho nhận xét.
-.......cho tới đủ 12 cung.
Kết luận: là trật lất.

Mà phải là:

- Tổ hợp Mệnh Tài Quan, ở đây là Tỵ Dậu Sửu. Qua đó bạn hiểu lá số này thuộc cách cục gì? Ngũ hành Mệnh cho phép bạn biết Mệnh bạn có xu hướng "ăn" nhiều vào ngôi sao nào trong tổ hợp này (kể cả xung chiếu). Và cần suy xét cẩn thận khi Mệnh Là VCD.
- Xung chiếu của Mệnh là Mão (Cung Di).
- Nhị hợp của mệnh là Ách: Dậu và Thìn.
- Lục xung của Mệnh là Tuất (Phụ Mẫu)

Tương tự các cường cung khác, và bạn cho những nhận xét tổng thể của lá số người đó. Nhưng chưa đủ đâu:

- Đó là Âm Dương: Âm Dương ở đây rất quan trọng cho bạn hiểu lá số về sức khỏe, hôn phối, Cha Mẹ, con gái, con trai.....
- Đó là Tuần: đóng ở đâu thì vị trí đó (2 cung) trở nên quan trọng. Ví dụ: Tuần Âm là trong Nữ, nghiêng về phía Nữ, lợi cho Nữ giới....Hay bạn có Tuần cư Tài: là trọng tiền, Tài chính có xu hướng chỉ vào mà không ra....Tuần cung Di: có xu hướng thích ra ngoài hơn là ở nhà hay ngồi yên một chổ.
- Triệt: là sự xem thường, là hiểu biết, là tấm khiên bảo vệ, là Triệt lộ ra bao điều quý.....Ví dụ: Triệt Dương là xem thường Nam giới, không lợi cho Nam giới....và cả Trí Tuệ: sự thông tuệ nếu ở đây nhiều cát tinh. Hay một ví dụ khác: Triệt cung Nô là bạn không xem trọng bạn bè, ít bạn, .....
- Vậy cả Tuần và Triệt là thế nào?
- Cũng 2 Anh em Tuần và Triệt: xem thử Chính tinh đó thích Triệt hay không? Yêu thích Tuần hay không?

Ngoài ra: Đó là vị trí đóng của cung An Thân và Tứ hóa.

Vấn đề 3. Là xem hạn:

Đại hạn là Gốc, sau đó là Tiểu hạn và kế là hạn tháng, hạn ngày, ....hạn giờ.

Tiểu hạn:

Tùy tam hợp tuổi mà bạn biết khởi hạn bạn trong lá số ở đâu? Ví dụ: Tuổi Thân trong tam hợp Thân Tý Thìn lấy xung của cung Thìn là Tuất bạn ghi khởi hạn tuổi Thân là Thân tại cung Tuất: Dương Nam - Âm Nữ đi thuận (ví dụ Tiểu hạn Năm Canh Dần Ở Thìn) và Dương Nữ Âm Nam đi ngược (Tiểu hạn năm Canh Dần là ở Thìn)

Hạn tháng:


Tháng Giêng khởi từ cung Dần tùy can năm ta có can tháng và mỗi cung 1 tháng đếm Thuận. Ví dụ năm Canh dần khởi tháng Giêng là Mậu Dần, tháng hai là Kỹ Mão,.......Tháng Chạp là Kỷ Sửu.

Vấn đề là biết cách áp dụng ngôi sao di động: như là sự update bản đồ hàng năm của google vào là số tỉnh của bạn. Và quan trọng:

Xem hạm một năm, một tháng, một ngày, đó là không chỉ là tổ hợp (tam hợp và xung chiếu) tại cung bạn đang xét. Mà là:

Muốn tìm hiểu sự chuyển động bạn vẫn phải nhìn cung Di. Con cái năm nay thế nào bạn phải nhìn cung Tử, Hoàn cảnh là việc là có cung Quan, tai nạn ra sao bạn nhìn cung Ách....Tổ hợp Tam hợp của tiểu hạn (Xung chiếu, và lục hại) là tổng quát: bạn tìm hiểu thử xem năm nay tổng quát bạn sẽ có gì? sao di động nhập hạn từ đâu đến? (nguồn gốc của sao đó)....Nhìn một hạn không khác gì xem tổng quát một lá số mà giá trị gói gọn trong một năm, một tháng, một ngày.....

Tử vi thiên lương - sưu tầm
Tử vi thiên lương

SAO THAM LANG


Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh Tính: Âm Hành: Thủy
Loại: Hung Tinh, Dâm Tinh Tên gọi tắt thường gặp: Tham
Đặc Tính: Họa phúc, uy quyền
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 3 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Vị Trí Ở Các Cung
Miếu địa ở các cung Sửu, Mùi.
Vượng địa ở các cung Thìn, Tuất.
Đắc địa ở các cung Dần, Thân.
Hãm địa ở các cung Tỵ, Hợi, Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Ý Nghĩa Tham Lang Ở Cung Mệnh

Tướng Mạo

Cung Mệnh có Tham Lang miếu, vượng hay đắc địa thì có thân hình cao lớn, vạm vỡ, da trắng, mặt đầy đặn, nhiều lông, tóc, râu rậm rạp. Riêng trường hợp miếu địa, có nốt ruồi kín.
Còn Tham Lang hãm địa thì thân hình cao vừa tầm, hơi gầy, da thô, xấu, mặt dài nhưng không đầy đặn, tiếng nói vang, cổ cao.

Tính Tình

Sao Tham Lang ở các cung miếu địa, vượng địa, đắc địa là người thông minh, có nhiều tài khéo, làm nghề gì cũng có máu văn nghệ, nghệ thuật, thời trang, đa tình, thủ công tinh xảo, khéo léo, có tài tổ chức, ưa hoạt động, đôi khi có sự hiếu thắng hoặc tự đắc, nhưng cũng hay chán.
Sao Tham Lang ở cung hãm địa là người cô độc, dù có người thân cũng không hạp tánh nhau, tánh tình hay mưu cầu, mưu tính ngược xuôi, đôi khi có sự gian hiểm, dối trá, ích kỷ, có nhiều dục vọng, tham vọng, hay ghen tuông, cạnh tranh, rong chơi phiêu lãng. Nếu không thì có những thú vui giải trí về văn nghệ, cờ bạc, đánh cờ, săn bắn, đua ngựa. Hoặc hay vào ra, sinh sống ở những nơi phồn hoa đô hội, phong lưu tài tử. Hay làm liều, nên dễ sanh ra chuyện tham ô, lừa đảo, dối trá, trộm cắp, xấu máu về tiền bạc, tửu sắc.

Công Danh Tài Lộc

Sao Tham Lang ở cung đắc địa trở lên thì giàu sang. Nhưng vì Tham Lang là sao Bắc Đẩu nên càng về già càng thịnh vượng, an nhàn, sung sướng. Nếu có thêm cát tinh, thì mức tài lộc, công danh càng tăng. Nếu đồng cung với Kỵ thì buôn bán giàu có.
Sao Tham Lang ở hãm địa là người có óc kinh doanh thường chuyên kỹ nghệ, thương mại, thủ công, nhưng tài lộc, công danh chật vật. Nhưng dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa, hoặc gặp Kỵ hay Riêu đồng cung, thường bị giam cầm (nếu thiếu sao giải) hoặc hay bị tai nạn sông nước.
Sao Tham Lang ở cung vượng địa nếu có sao Hóa Kỵ đồng cung, hoặc xung chiếu, hoặc hợp chiếu, là người có óc kinh doanh, thích làm ăn buôn bán. Nếu có thêm Văn Xương, Văn Khúc, là người có tay nghề khéo, tinh vi, sắc sảo, có hoa tay, ưa thích văn chương, cây cảnh, nghệ thuật, nhưng hay chóng chán, hoặc hay bị phá ngang bỏ dở nửa chừng, nửa đời sau mới có danh phận, sự nghiệp.
Phúc Thọ Tai Họa
Sao Tham Lang ở cung đắc địa thì sống lâu, dù thiếu thời có vất vả. Nếu hãm địa thì nhiều bệnh, hay bị giam cầm nếu không bỏ quê hương cầu thực thì yểu, cô độc.
Riêng sao Tham Lang ở Mão, Dậu là người yếm thế, làm việc gì cũng thất bại và hay gặp sự chẳng lành. Người này chỉ có chí hướng đi tu. Nếu gặp thêm sát tinh hay Kỵ, Hình thì hay bị nạn khủng khiếp, giam cầm và yểu tử. Nói chung, Tham Lang đi cùng với ác tinh, sát tinh là phá cách, tai họa nhiều thêm.

Những Bộ Sao Tốt

Tham Lang, Hỏa Tinh đồng cung miếu địa hay Tham Lang, Linh Tinh đồng cung miếu địa: phú quí tột bậc, danh tiếng lừng lẫy. Rất hiển đạt về võ nghiệp. Rất tốt cho hai tuổi Mậu Kỷ vì ứng hợp với cách này.
Tham Lang, Trường Sinh ở Dần Thân: Sống rất lâu.
Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung ở Tứ mộ: thì ngoài 30 tuổi công danh, sự nghiệp mới có sự tiến triển tốt đẹp, làm nên sự nghiệp nhưng phải có thêm cát tinh nhiều ở Mệnh. Nếu thêm cả Hỏa Linh thì rất quí hiển. Nhưng nếu cung Thân ở Tứ mộ có Tham Vũ thì lại là hạ cách, không quí hiển được, nhất là thiếu cát tinh.
Các cách trên nếu có thêm sao tốt như Khoa, Quyền, Lộc, Xương, Khúc, Tả, Hữu thì rất tốt cả về công danh, tài lộc, phúc thọ, tâm tính.
Những Bộ Sao Xấu
Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung gặp Phá Quân: Lụy thân vì sa đọa tửu, sắc.
Tham Lang, Liêm Trinh đồng cung ở Tỵ, Hợi: Con trai đàng điếm, du đãng, con gái dâm dật đĩ thõa, giang hồ. Chỉ có sao Hóa Kỵ hay Tuần Triệt mới hóa giải được bất lợi này.
Tham Lang, Liêm Trinh ở Dần Thân gặp Văn Xương đồng cung: Phải có phen bị tù hình khổ sở (nếu thiếu sao giải).
Tham Lang, Liêm, Tuyệt, Linh đồng cung: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).
Tham Lang, Liêm, Kình, Kiếp Không, Hư Mã: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).
Tham Lang, Kình (hay Đà đồng cung) ở Tý Hợi: Giang hồ, lãng tử, chơi bời lang thang hay hoang đàng. Nếu ở Dần thì còn bị đánh đập vì chơi bời.
Tham Lang, Thất Sát: Trai trộm cướp, gái giang hồ; nếu thêm hung tinh thì nguy hiểm càng tăng.
Tham Lang, Thất Sát, Tang Môn, Bạch Hổ ở Dần, Ngọ: Bị sét đánh, thú cắn.
Tham Lang, Không Kiếp ở Mão Dậu: Đi tu phá giới.
Tham Lang Đào, Tham Lang Hồng hay Tham Lang Liêm: Dâm đãng, lăng loàn. (Nếu gặp Tuần Triệt thì đoan chính).

Ý Nghĩa Tham Lang Ở Cung Phu Thê

Tham Lang ở Thìn, Tuất, vợ hay chồng tài giỏi, giàu sang, nhưng gái thì ghen, chồng thì ăn chơi. Có thể hình khắc nếu lập gia đình sớm.
Tham Lang ở Dần, Thân là số vợ hay chồng ưa ghen tuông, đa tình, hoặc nhiều tình cảm, đôi khi bạc tình, hôn nhân rất chóng thành nhưng cũng dễ tan. Tuy nhiên nếu có sao Lộc Tồn, Phúc Đức, Thiên Đức, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Quan, Thiên Phúc, thì người hôn phối rất đứng đắn, con nhà danh giá, có lòng từ thiện, ưa thích vấn đề tâm linh, huyền bí.
Sao Tham Lang, Tử Vi đồng cung thì nên muộn lập gia đình mới êm đẹp lâu dài, nhưng trong nhà vẫn có sự bất hòa vì hay ghen.
Sao Tham Lang, Liêm Trinh thì không được tốt cho lắm như muộn lập gia đình, duyên nợ khó khăn, trắc trở, chắp nối, góa bụa. Duyên nợ dễ gặp cảnh lập gia đình nhiều lần, hoặc chắp nối, lấy nhau lúc còn nghèo khó, hoạn nạn, bị hình khắc gia đạo tức là bất hòa, xa cách. Tuy nhiên nếu không có sao xấu thì duyên nợ tốt, chóng thành, người hôn phối có tài năng, liêm khiết, trung trinh, biết lễ độ, tự kiềm chế lấy mình, thẳng thắn.
Sao Tham Lang, Vũ Khúc thì muộn lập gia đình mới tốt, hoặc phải lấy người lớn tuổi hơn nhiều, vợ chồng đều tháo vác, tài hoa, có nghề khéo, đặc biệt.
Ý Nghĩa Tham Lang Ở Cung Tài Bạch
Nếu ở Thìn Tuất thì chóng phát đạt, nhất là về già. Sao Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung thì chỉ phát được lúc già, sau 30 tuổi. Rất hợp với nghề kinh doanh mua bán mà trở thành giàu có, nếu không thì cũng có tay nghề khéo léo, tinh xảo, thủ công, bán quán mà phát tài. Người rất tài hoa, khéo tay, có tính nghệ sĩ.
Đồng cung với Tử Vi thì tầm thường. Sao Tham Lang, Liêm Trinh thì phải cạnh tranh khó nhọc mới được tiền, mà kiếm tiền nhưng cũng không bền, nên làm giàu chậm mà chắc chắn.

Ý Nghĩa Tham Lang Ở Cung Thiên Di

Chỉ tốt ở Thìn Tuất sinh kế dễ dàng nhờ gặp quí nhân. Với các sao khác như Tử Vi, Liêm Trinh thì bất lợi hay bị tai nạn vì kiện tụng, tù tội, tiểu nhân. Ở Tý Ngọ và Dần Thân cũng không hay. Đặc biệt với Vũ Khúc thì phát tài nhờ buôn bán, đương sự là phú thương.

Ý Nghĩa Tham Lang Ở Cung Quan Lộc

Sao Tham Lang ở cung Tý Ngọ Dần Thân, thường là quân nhân, chức vị tầm thường, công danh nhỏ thấp, thất thường. Ở cung Tý Ngọ thì tham nhũng. Nếu buôn bán thì lại thịnh vượng.
Tham Lang đồng cung với Liêm Trinh thì cũng là võ nghiệp nhưng thấp kém lại hay bị hình tù. Đồng cung với Tử Vi thì bình thường. Nếu đồng cung với Vũ Khúc thì là doanh thương đắc phú, nhất là về hậu vận. Làm viên chức thì không bền.

Ý Nghĩa Tham Lang Ở Cung Phúc Đức

Sao Tham Lang ở Thìn Tuất và đặc biệt đi với Vũ Khúc thì tốt đẹp, hưởng phúc thọ, nhất là về già. Họ hàng cũng hiển vinh, nhất là nghiệp võ hay buôn bán, thường tha hương lập nghiệp. Còn ở Dần, Thân, Tý Ngọ, đồng cung với Tử Vi thì kém và bạc phước, dòng họ ly tán, sa sút, có khi dâm đãng.
Sao Tham Lang đồng cung với Liêm Trinh thì phúc đức không tốt, phải đi xa, lưu lạc, trong đời dễ gặp họa vì hình tù, kiện tụng truyền kiếp, bị vu oan giá họa, họ hàng ly tán, cơ hàn. Đi vào công danh hay gặp trắc trở, nếu yên phận thì về già phong lưu.

Ý Nghĩa Tham Lang Ở Cung Tử Tức

Sao Tham Lang là sao mang ý nghĩa phong lưu, phóng đãng, nên nếu gặp các sao tốt thì con cái đứng đắn, tài hoa. Nếu không có sao tốt thì con cái hay ham vui, không thích ở gần cha mẹ, đường đời gặp nhiều gian truân, lận đận, duyên nợ khó khăn, hay gặp tai nạn, bệnh tật, tật nguyền, con hai giòng, có đứa yểu tử.

Tham Lang Khi Vào Các Hạn

Nếu Tham Lang nhập hạn ở Tứ Mộ, thì hoạnh phát tài danh, nhất là khi có Linh Hỏa hội chiếu.
Tham Lang Vũ Lộc Mã: Được nhiều tiền và có danh chức.
Tham Lang Hồng Đào: Lập gia đình.
Nếu Tham Lang hãm địa thì hao tiền, phóng đãng, có thể bị tù hay họa. Gặp thêm sát tinh càng thêm nguy kịch.

ĐÀO ANH DŨNG (tổng hợp và giới thiệu)
Địa chỉ: Thị tứ Phùng Hưng, xã Phùng Hưng,
huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Email: anhdungdao131@yahoo.com.vn

BÀN VỀ TƯỚNG MẠO QUA SAO TỬ VI



Hồi tôi mới lập gia đình tôi có đi coi một thầy Tử vi ở Sài gòn. Khi đoán đến cung Thê của tôi, thầy đó tả hình dáng của vợ tôi đúng y như thầy ta thấy vợ tôi trước mặt (lẽ dĩ nhiên hôm đó tôi đi một mình). Vì vậy tôi lấy làm thích thú quá và từ đó hết sức lưu tâm vấn đề tướng mạo qua Tử vi. Bây giờ xin quý vị đọc qua những điều tôi ghi chú và chiêm nghiệm được. Đương nhiên những điều này rất sơ đẳng và không chính xác hoàn toàn được vì ai đã học Tử vi đều hiểu rằng khoa học này rất linh động và uyển chuyển.



Tử Vi cư Tý:


Tôi cần nói một điểm chung với các bạn mới học Tử vi (vì những bạn đã khá đương nhiên phải biết) là theo cách bố cục của các chính tinh thì khi Tử Vi cư Tý bao giờ cũng độc thủ, nghĩa là không có chính tinh khác nào đồng cung, cho nên khi thấy Phá Quân, Tử Vi cư Tý chẳng hạn là hiểu ngay an sao sai, vì Tử Vi, Phá Quân chỉ đồng cung ở Sửu hoặc Mùi. Đối với các cung khác dưới đây cũng phải theo định lệ tương tự, bây giờ tôi xin nói đến tướng mạo.
Người nào có Tử Vi cư Tý người tầm thước, không mập, nước da không trắng và cũng không hồng hào mặc dù có câu: «Tử Vi mặt đỏ lưng dầy». Trừ phi có Thiên Khôi, Hồng, Đào, Xương, Khúc thì người đó mới cao lên hơn một chút và nước da khá trắng trẻo, nhưng vẫn khó hồng hào chứ chưa nói là đỏ được. Tử Vi ở cung Tý tuy không hãm địa (vì theo các sách thì không có trường hợp hãm địa với Tử Vi mà chỉ có bình hoà) nhưng Thổ cư Thuỷ thì không thể nào phát triển đúng khả năng, đặc tính. Còn như trường hợp mạng mình khắc Tử Vi (ví dụ mạng Thuỷ) thì tướng mạo khác hẳn vì lúc đó mình sẽ chịu ảnh hưởng của sao xung chiếu (là Tham Lang thuộc Thuỷ - Tôi không cho là Mộc như một vài sách có nêu ra) và sẽ hơi cao dù không có Khôi và trắng trẻo dù không có Hồng, Đào…


Tử Vi cư Sửu

Nói đến đây tôi chợt nhớ chưa nói với quý bạn là tôi không nêu miếu, vượng vì tôi nêu ra cả 12 cung để các bạn khỏi phải cân nhắc ngũ hành của sao với cung, tuy vậy khi nào thấy cần tôi cũng bàn sơ qua.
Tử Vi cư Sửu bao giờ cũng đồng cung với Phá Quân, nếu hợp với mạng (Thổ, Kim hoặc Hoả) thì tạm cho là ứng với lưng dầy nhưng mặt vẫn chưa thể hồng hào và vẫn thấp. Tuy vậy chưa thể mập nhiều vì Phá Quân thuộc Thuỷ đã làm hao mòn chất Thổ của Tử Vi mặc dù Tử Vi ở Sửu là Thổ cũng đã gặp môi trường thuận lợi để phát triển khả năng, đặc tính. Trường hợp gặp mạng Thuỷ hoặc Mộc thì Phá Quân sẽ ảnh hưởng mạnh tới mạng, nhất là có thêm Thiên Tướng xung chiếu (theo cách bố cục đương nhiên) cũng thuộc Thuỷ lại càng làm cho người đó có tầm vóc cao hơn nhiều, nhưng cũng không thể gọi là cao lắm được vì dù sao Phá Quân cũng vẫn phải «kiêng nể» Tử Vi một tí. Tuy nhiên nếu có thêm Thiên Khôi, Tướng, Ấn, Hoá Quyền thì Tử Vi hết có uy nữa và người đó có thể cao được.


Tử Vi cư Dần

Khi Tử Vi cư Dần bao giờ cũng có Thiên Phủ đồng cung. Đối với người mạng Thổ hay Hoả thì 2 sao Tử Phủ hoàn toàn ảnh hưởng tới tướng mạo, tức là người đó hơi thấp, người thanh tú vì tuy Tử Phủ đắc cách ở Dần, Thân nhưng vì cũng Dần thuộc Mộc nên vẫn có sự trở ngại cho Thổ, do đó không thể mập được, nhất là lại có Thất Sát ở cung Thân xung chiếu làm cho gầy ốm bớt đi. Nhưng dù sao cũng được dáng bộ chững chạc, quý phái, vẻ mặt phúc hậu, đầy đặn dù cho người không mập, nước da không trắng mấy trừ phi có Đào, Hồng, Quang, Phúc thì đỡ hơn. Đối với người mệnh Kim, tuy cũng chịu ảnh hưởng mạnh của Tử Phủ (vì Thổ sinh Kim) nhưng đồng thời hợp với Thất Sát khá nhiều cho nên lại càng không thể mập và trắng được. Riêng đối với người mạng Mộc thì lại phải tìm các trung tinh tại mạng xem sao nào hợp để giải đoán tướng mạo vì Tử Phủ thuộc Thổ không hợp với Mộc và chính sao Thất Sát cũng khắc với mạng Mộc (còn Liêm Tướng ở Ngọ và Vũ Khúc ở Tuất tam hợp chiếu không gây ảnh hướng gì về phương diện tướng mạo theo kinh nghiệm của riêng tôi). Trường hợp này thí dụ mạng có Địa Kiếp, Kiếp Sát, Đà la, Hoả Linh thì thực gầy đét như con cá mắm và mất hết phúc hậu, quý phái. Bởi vậy thấy Tử Phủ Dần, Thân đừng mừng vội.


Tử Vi cư Mão

Tử Vi cư Mão bao giờ cũng có Tham Lang đồng cung, riêng trong trường hợp này tôi nghiệm thấy có thể hoàn toàn dùng câu: «Tử Vi mặt đỏ lưng dầy» được miễn là hợp mạng và đừng có nhiều trung tinh và bàng tinh khác chế hoá đi nhiều. Tôi đã được xem lá số nhiều người có Tử Tham thì thấy hầu hết là lùn và mập, mặt lại đỏ như người uống rượu nhưng nếu khắc mệnh thì không đúng, vì người mạng Thuỷ hoặc Mộc chẳng hạn thì Tham Lang sẽ ảnh hưởng nhiều và bớt lùn đi và mặt lại không đỏ mấy. Sở dĩ không cao được nhiều mặc dù có Tham Lang vì cung Mão thuộc Mộc được Tham Lang nuôi dưỡng nên sao này yếu đi rồi không còn gây ảnh hưởng mạnh cho mạng Mộc hoặc Thuỷ nữa.
Trong trường hợp Tử Vi cư Mão quý bạn không cần chú ý tới ảnh hưởng của cung xung chiếu vì cung này Vô chính diệu làm gì có chính tinh để gây ảnh hưởng. Và lại có mạng nào mà không hợp với cả 2 sao Tử Tham, thí dụ mạng Hoả tuy không hợp với Tham Lang nhưng lại hợp với Tử Vi …
Ngoài ra, tôi còn nghiệm thấy dù có Khôi, Việt chăng nữa Tử Tham vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ vấn đề lùn, mập và dù có Đào, Hồng, Xương, Khúc vẫn bị mặt đỏ như thường, trừ phi sinh ban đêm có khi không ứng nghiệm.



Tử Vi cư Thìn


Bao giờ cũng có Thiên Tướng đồng cung, nói chung gặp Tử Tướng ở Thìn bao giờ cũng có chiều cao một chút dù gặp mạng nào, vì Tử Vi ở La Võng (Thìn, Tuất) bị câu thúc không phát huy được đặc tính của mình mặc dù Thiên Tướng cũng bị vướng víu vì lưới nhưng không đến nỗi « khổ sở » quá, cho nên Thiên Tướng chủ về cao gầy được ảnh hưởng nhiều hơn, nhất là được Phá Quân xung chiếu hỗ trợ thêm vì Phá Quân thuộc Thuỷ. Tuy vậy cũng nên lưu ý một điểm là nếu Tuần, Triệt án ngữ tại mạng thì Tử vi lẫn Thiên Tướng đều bị mất ảnh hưởng và lúc đó Phá Quân «làm chủ tình hình» và mình sẽ đoán tướng mạo theo Phá Quân cư Tuất, nghĩa là người cao và to con. Còn trường hợp gặp Thiên Hình (tượng trưng cho con dao) thì lưới trời được cắt đứt, lúc đó Tử vi có thể vùng vẫy được và người sẽ lùn bớt đi nếu mạng Thổ hoặc Kim. Còn vẻ mặt nói chung thì có vẻ kiêu kì, còn đẹp hay xấu tuỳ vào sao phụ.



Tử Vi cư Tị


Ở cung này có cách Tử Sát đồng cung, đối cung có Thiên Phủ. Trong trường hợp này, chưa bao giờ tôi thấy có người nào mập lùn và nước da trắng, dù cho ngũ hành hợp (như Thổ hoặc Kim), mặc dầu có người nói rằng Thất Sát là Kim cư cung Tị là Hoả bị khắc nên không có ảnh hưởng, nhưng Tử Vi là Thổ ở cung Hoả bị nung cháy rồi thì khối lượng đâu còn nở nang mà phải rút bớt đi, còn sao Thiên Phủ xung chiếu là Thổ bị cung Hợi là Thuỷ làm tan rã đất rồi còn gì mà ảnh hưởng mạnh. Vì vậy người nào Tử Sát ở cung Tị thường thường gầy (trừ phi có thêm trung tinh Quan, Phúc hoặc Hoá quyền thì còn đầy đặn một chút) và da ngăm ngăm, vẻ mặt nghiêm trang như quan toà. Phụ nữ không nên có cách này vì như thế bớt vẻ nữ nhi đi nhiều, nhưng nếu kén vợ thì quý, bận nên lựa chọn người Tử Sát (vì người đó vừa đoan trang, vừa khá giỏi vì «Tử Sát đông lâm Tị Hợi nhất triều phú quý song toàn» mặc dầu phải chịu vợ kém nhan sắc kiều diễm. Tuy vậy nếu có Long, Phượng, Tả, Hữu, Thai, Toạ, Quang, Quý hội chiếu thì trông cũng được lắm.


Tử Vi cư Ngọ

Cũng như ở Tý, Tử Vi không có chính tinh nào đồng cung ở Ngọ, nhưng về tướng mạo lại khác nhau vì Tử Vi cư Ngọ là đắc vị nhất, chưa bàn tới công danh tính tình. Người mạng Thổ, Kim thì trông bệ vệ, bảnh bảo nhất và cũng cao lớn để để cho xứng với Tử Phủ Vũ Tướng với Tử Vi cư Ngọ. Vẻ mặt nhất định là vừa uy nghi, vừa đẹp một cách quý phái nước da cũng không đen hoặc hồng mà lại trắng. Nếu là phụ nữ thì đúng là mệnh phụ rồi.
Nếu không may gặp người mạng Thuỷ hoặc Mộc, thì mất biết bao cách hay (đây tôi chỉ đề cập tới tướng mạo) vì lúc đó Tử Vi chẳng có tí gì ảnh hưởng tới mạng mà chính sao Tham Lang cư Tý xung chiếu chi phối hoàn toàn, mà Tham Lang cư Tý tuy đẹp đẽ, duyên dáng nhưng tham vọng, dâm đãng nên vẻ mặt, hình dáng kém quý phái, đoan trang đi nhiều. Tuy vậy, nếu may cung mạng có nhiều sao Kim thì đỡ lắm vì lúc đó Tử Vi sinh các sao Kim rồi các sao sinh mạng Thuỷ (mạng Mộc thì coi như hỏng) do đó lại ăn được sao Tử vi mặc dù vẫn không hoàn toàn. Ngoài ra, tuổi Giáp, Đinh, Kỷ cũng dễ được hình dánh như vậy vì khi đã được hưởng về công danh, sự nghiệp, không lẽ lại bị mất tướng mạo tốt đẹp hay sao.


Tử Vi cư Mùi

Bao giờ cũng có Phá Quân đồng cung và Thiên Tướng xung chiếu giống như cư Sửu. Vì cũng Mùi và Sửu đều thuộc Thổ cho nên quý bạn có thể tạm đoán trường hợp này như trường hợp Tử Vi cư Sửu. Tôi chưa nghiệm thấy được điều khác biệt, nếu quý bạn thấy khác, chẳng qua vì các sao phụ chi phối mà thôi.


Tử Vi cư Thân

Cũng như cư Dần, nghĩa là Tử Vi đồng cung với Thiên Phủ và có Thất Sát cư Dần xung chiếu. Tử Phủ cư Thân kém hơn Tử Phủ cư Dần vì hai sao thuộc Thổ sinh cung Kim (sinh xuất) nên kém ảnh hưởng trong khi cư Dần thuộc Mộc không hợp nhưng không mất khả năng vì Thổ khắc Mộc chỉ bị cản trở chút đỉnh (nhưng đó là nói về công danh). Do đó người mạng Thổ, Kim trong trường hợp cư Thân không có dáng quý phái và phúc hậu như cư Dần tuy hình dáng cao thấp vẫn giống nhau và nước da vẫn không trắng lắm, thường thường được hàm răng đều (kể cả hai trường hợp).



Tử Vi cư Dậu


Bao giờ cũng có Tham Lang đồng cung, cũng như trường hợp Tử Vi cư Mão. Nhưng có điều khác biệt là Tử Vi ở Dậu bị sinh xuất, trong khi Tham Lang thuộc Thuỷ được cung sinh nên Tham Lang có uy thế mạnh hơn. Do đó gặp người hợp với mạng Tử Vi cũng không được mập lắm và cũng không lùn lắm, mặt cũng bớt hồng hào mà trái lại phải cao hơn Tử Tham ở Mão vì Tham Lang có bản chất khá cao (trừ khi Tham Lang cư Tí Ngọ). Còn mạng Thuỷ hoặc Mộc thì đương nhiên hết ảnh hưởng của Tử vì và lúc đó người phải dong dỏng cao, thon, nước da trắng nhưng vẻ mặt đa tình, nhất là nếu có thêm Đào Hoa, Thiên Hỉ. Tôi không bao giờ ưa phụ nữ có Tử Tham (dù cư Mão hay Dậu) có Đào Hoa, Thiên Hỉ vì đương nhiên lẳng lơ, bất chính, lộ ra vẻ mặt.


Tử Vi cư Tuất

Đoán giống như cư Thìn vì hai cung đều thuộc thổ và vướng vào lưới trời (một bên là Thiên la, một bên là Địa võng). Rất có thể có sự khác biệt phần nào về tướng dạng, nhưng tôi chưa tìm ra được.


Tử Vi cư Hợi

Không thể nào đoán giống như cư Tỵ, vì cư Tỵ là được sinh nhập trong khi cư Hợi (Thuỷ) bị khắc chế, còn Thất Sát Kim lại sinh cung Hợi làm Thuỷ vượng thêm và khắc Tử Vi mạnh hơn. Do đó người nào có mạng Tử Sát cư Hợi cũng gầy và mặt hơi đen, u buồn hơn Tử Sát cư Tị, nhất là người mạng Thuỷ và Kim. Mạng Thổ và Hoả còn đỡ hơn. Và chính vợ tôi có Tử Sát (theo cung Thê của tôi) nên ông thầy nói trên đã đoán như vậy khiến tôi phục quá và nhớ mãi, nhất là vợ tôi mạng thuộc Thuỷ lại càng đúng nữa.

HÓA GIẢI ÁC NGHIỆP CỦA KHÔNG - KIẾP


Không Kiếp là hai hung tinh hàng đầu trong tử vi, đóng đâu xấu đó, ai cũng muốn tránh. Ngay cả khi đắc địa cũng chưa chắc đã tốt, kinh nghiệm cho thấy Không Kiếp dù đắc mà gặp bộ chính tinh yếu như Cơ Nguyệt Đồng Lương thì vẫn cứ xấu. Chế ngự Không Kiếp là việc rất nên làm, nhưng sách vở xưa nay chỉ nêu chung chung là dùng các sao giải như Hóa Khoa, Thiên Giải, Tuần Triệt. Bài viết này, viết theo đề nghị của chủ trang Đặng Xuân Xuyến, tôi cố gắng đưa ra các biện pháp cụ thể căn cứ lý thuyết và thực tế đã chiêm nghiệm được, mong cống hiến tới bạn đọc để hóa giải được ác tính tàn sát của Không - Kiếp.
Trước hết thử cách ngăn chặn là tạo ra Tuần Triệt, tuy nhiên cách này

(Dịch giả Đoàn Mạnh Thế)
chỉ áp dụng được với Mệnh vô chính diệu, còn nếu Mệnh có chính tinh thì chưa chắc đã hay, áp lực cùm khóa đè lên chính tinh dễ lại thành có hại. Vậy chỉ còn cách làm tĩnh Không Kiếp để nó giảm thiểu tác hại và dụng Hóa Khoa đệ nhất giải thần để giải ác tính của Không, Kiếp.
Một sao xấu trong cung chỉ có thể gây họa nếu nó có cơ hội phát động lên. Còn ở trạng thái tĩnh, nó ít làm gì được, như thanh kiếm để yên trong vỏ, cơ bản là vô hại. Không Kiếp cũng thế, ở Mệnh là bản chất con người có hạn chế, nhưng cái bản chất ấy chỉ lộ ra thành họa nếu nó động lên do tương giao với hoàn cảnh. Vậy để làm tĩnh Không Kiếp thì cần nhất là khóa chặt, làm tĩnh cung Di.
Hạn chế cung Di tức là hạn chế giao du với bên ngoài. Người thường thì giao thiệp càng rộng càng tốt nhưng người Mệnh Không Kiếp làm thế là đang thả Không Kiếp vào hoàn cảnh, sẽ tạo cơ hội cho Không - Kiếp tác họa. Không Kiếp lợi cho các việc nghiên cứu, suy tư cá nhân, tìm tòi khám phá nên rất cần phải có không gian cá nhân trong nhà để làm những việc riêng tư như đọc sách, suy nghĩ, viết lách, Thiền, tìm hiểu cái gì đó. Các nhà khoa học thành công thường có Không Kiếp chính bởi vì cách sống của họ cơ bản là ngồi lỳ trong phòng để nghiên cứu, suy tư. Họ vận dụng Không Kiếp để đào sâu tư duy cá nhân, từ đó có các khám phá, phát minh mới. Họ tự nhiên làm tĩnh cung Di nên không để Không Kiếp thoát ra ngoại cảnh mà gây họa.
Các nhà văn cũng dùng cách tương tự, rất nhiều nhà văn nổi tiếng có Không Kiếp ở Mệnh. Họ thứ nhất dùng học hành, thứ hai tĩnh lặng để suy tư, để viết, đó chính là họ đang trấn an Không Kiếp, không để nó nổi lên theo cung Di. Có ông đóng cửa treo biển không tiếp khách cả tháng để tập trung viết, bản chất là gì, chính là vô hiệu hóa cung Di, không để cung Di xâm lấn lôi kéo mình. Nhà văn mà cứ lê la như người thường, bon chen đủ trò ắt là hỏng, không thể suy nghĩ viết được cái gì cho ra hồn. Tại sao hiện nay văn học kém, vì họ dù có Không Kiếp hay không đều phải bon chen kiếm sống, thêm vào đó là môi trường học thuật tiêu cực. Đăng bài cũng phải thân quen, lượn lách xí xớn với biên tập. Xuất bản sách cũng đòi lót tay, nhuận bút vài đồng có khi lại phải ra quán nghe thổi sáo bằng chai bia! Để bị cuốn vào đó là thả Không Kiếp ra rồi, những trò bẩn đó là sở trường của Không Kiếp. Để Không Kiếp cuốn theo ngoại cảnh thì mất hết trí huệ, còn viết được cái gì ra hồn. Câu thành ngữ cổ: “Trí tuệ sinh ra trong yên lặng…” rất có thể là dành cho Không Kiếp
Từ đó suy ra Không Kiếp hợp người tu hành là cực kỳ hợp lý, vì họ đã cách ly mình với xã hội rồi. Tu hành chính là biện pháp hóa giải Không Kiếp triệt để nhất. Không có cung Di kích động, Không Kiếp còn lại mình ta dưới trăng sáng, thế thì biết tiêu cực vào đâu, biết tham lam sân hận với ai? Không Kiếp khi đó trở lại bản chất nội tâm thầm kín, đào luyện tâm thức đi đến chỗ sâu xa đại ngộ, vì thế Không Kiếp là cửa ngõ giác ngộ, là sao của nhiều bậc chân tu.
Cách thứ hai để giải Không Kiếp là dụng Hóa Khoa, như sách vở đã viết, nhưng sách vở không nêu cách làm cụ thể. Thực tế để dụng Hóa Khoa không có nghĩa là Mệnh, Thân phải có Hóa Khoa, mà là dụng tất cả các tượng thể hiện ra của Hóa Khoa. Đó là học hành, bằng cấp, trường lớp, khoa bảng, giáo dục…
Trước hết là học hành để có bằng cấp, việc này không chỉ giải Không Kiếp mà còn giải nhiều điều xấu khác. Cứ có bằng cấp là cơ bản hơn số đông thi trượt rồi. Sau khi có bằng cấp thì dụng tiếp khí Hóa Khoa, đó là làm nghề thầy, thầy giáo, thầy thuốc, thầy nghiên cứu. Gắn mình với các cơ sở giáo dục, học viện, trung tâm nghiên cứu. Cách này giải Không Kiếp rất hiệu quả, do tính mô phạm của Hóa Khoa nên Không Kiếp bị hạn chế ảnh hưởng. Giáo dục còn tạo ra môi trường học thuật để Không Kiếp chú tâm vào, phát huy điểm mạnh. Nếu có tiêu cực thì cũng ít hơn ngoài xã hội, thậm chí xã hội còn cố tình lôi kéo các ông thầy vào tiêu cực. Người ta thường quan niệm những trò mua bằng, bán điểm, gian lận thi cử là tệ nạn chung, không là gì cả. Nhận thức này vô tình có lợi cho bản chất tham lam sân hận của Không Kiếp.
Trong thực tế nghiệm lý, cùng mệnh Không Kiếp mà làm thầy bà so với không đã khác nhau hẳn rồi. Trên các diễn đàn huyền học có người công khai lá số có Không Kiếp mà xem ra vẫn bình thường, ấy chính là vì họ đang dụng Không Kiếp để nghiên cứu huyền học. Có người lại chính là giáo viên, bác sỹ, nhà khoa học nên vô tình làm Không Kiếp đi đúng đường, vì thế nó đỡ xấu. Ngoài ra, người mệnh Không Kiếp chỉ cần có nhà ở gần cơ sở giáo dục thôi thì cũng đã tự nhiên tốt hơn. Khí Hóa Khoa tỏa ra từ đó gây ảnh hưởng tốt đẹp lên môi trường sống, làm bản thân họ được lợi và cả con cháu thế hệ sau.
Nếu không thể làm thầy giáo, thầy thuốc, nhà khoa học thì làm việc trong ngành giáo dục cũng là tốt rồi. Hoặc hãy tìm hiểu, tu học cái gì đó, như lĩnh vực huyền bí chẳng hạn. Người Không Kiếp vốn sẵn căn cơ nên nếu học được, có trình độ cao thì tự biết cách hạn chế cái dở của mình, hơn hẳn kẻ chỉ biết dụng Không Kiếp mà gian lận đục khoét vơ váo riêng tư.
Ai cũng có thể trở thành nhà nghiên cứu huyền bí, người Không Kiếp học huyền học đến khi có trình độ nếu lại nổi bản tính tham sân si mà xem bói lấy tiền thì sao? Việc dụng huyền học giúp người mà thực có ích thì có lấy tiền cũng chả sao. Tuy nhiên dụng huyền học theo cách xây nhà hướng tốt, lập cửa hàng đắc cát khí để kinh doanh sẽ hay hơn là xem bói lấy tiền. Điều này tự “mệnh Không Kiếp” cân nhắc áp dụng. Bởi vì xem đúng rất khó, tưởng giúp được người ta mà thành ra hại họ, nên nhiều người hành nghề xem bói rồi về sau con cái đều bị họa nặng. Ăn lộc của người mà không thực làm gì có lợi cho người thì tức là đang tự gây nghiệp. Thầy bói Lợn nổi danh xưa kia chính là gương tày liếp!
Không Kiếp có thể giải bằng việc làm tĩnh nó, tức là khóa cứng cung Di, đừng giao du nhiều với xã hội. Hai là dụng Hóa Khoa, dù mệnh không có cát tinh ấy nhưng nếu học hành để có bằng cấp trình độ là tự nhiên đã có cái linh phù may mắn để đè Không Kiếp rồi. Còn nếu học ra lại làm thầy, làm trong ngành giáo dục, nghiên cứu thì là đắc Khoa thực sự để giải Không Kiếp. Thứ nữa là có nhà ở ngay gần cơ sở giáo dục để hưởng khí Hóa Khoa cũng đại cát đại lợi. Tiếp theo là nghiên cứu học thuật để có chuyên môn cao. Hoặc tập viết văn, đào luyện cảm xúc cá nhân cho lên blog rên rỉ ỉ ôi cũng lợi hơn là không làm gì.
Ông nhà văn Nguyễn Khải mệnh thân có Không Kiếp, ông làm việc ngay trong một tòa báo lớn, luôn gần chữ nghĩa Xương Khúc, ông lại chăm chỉ, rất chịu khó nghiền ngẫm viết lách, nên khởi đầu văn ông dở mà cuối đời ông rất thành công.
Ông Ma Văn Kháng thì làm ngay trong ngành giáo dục rồi mới bắt đầu viết lách nọ kia…
Ông Nguyễn Huy Thiệp cũng vốn là giáo viên…
Ông Trương Đình Anh dù Không Kiếp đắc nhưng tự nhiên vẫn hành động theo hướng vừa dụng vừa giải nó. Đó là ông chả bao giờ lê la giao du vớ vẩn, làm việc xong ông về nhà. Ông tự hạn chế không để cung Di động lên, ông ở trong tháp ngà riêng của ông, đó cũng là tu đấy. Ông âm thầm nhồi bom để làm nổ tung cho chứng khoán FPT nó bay tít lên 500, 600 trăm ngàn 1 cổ phiếu làm lóa mắt kẻ hấp tấp tung tiền mua vào…
Những văn nhân, tài nhân đó, họ đều giải Không Kiếp theo hướng hoàn hảo, đi đến thành công hơn người.
*.
ĐOÀN MẠNH THẾ (Cẩn bút giới thiệu)
Địa chỉ: Số nhà 12 Ngách 32 Ngõ 133 phố Hồng Mai,
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.