CÁCH ĐA PHU QUA LÁ SỐ TỬ VI


CÁCH ĐA PHU QUA LÁ SỐ TỬ VI


Xem người phụ nữ có số đa phu hay không thì cung quan trọng nhất cần được khảo cứu là cung Phu Thê. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số cung khác như: Mệnh, Thân, Nô, Tử... cũng cho biết đời sống ngoại hôn nhân của đương số, hoặc thậm chí qua cung Phu - Thê của người phối hôn cũng có thể gián tiếp biết được cuộc hôn nhân và đời sống ngoại hôn nhân của đương số thế nào.
Xin giới thiệu với bạn đọc của trang Đặng Xuân Xuyến bài viết về cách xem các cách đa phu trên lá số tử vi.

CÁCH ĐA PHU TẠI CUNG PHU 

Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia đạo đặc biệt là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là "ngọc có vết", ám chỉ duyên số phụ nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng cho đến hậu quả trên hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là có hai đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn bà bị hắt hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ có Kỵ đơn thủ thì chỉ có nghĩa là bất hòa mà thôi.
Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn hãm địa sẽ bất lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài lần. Trái lại, nếu ba cung trên tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà thôi.
Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh: khắc phá, dễ đi đến tan vỡ, chắp nối.
Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê dù là đắc địa. Tuần, Triệt báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao thường báo hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba lần. Chỉ riêng Tuần hay Triệt cũng đủ hủy hoại một lần hôn nhân.
Tuần, Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung: chỉ sự gãy đổ một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau khi có lễ hỏi, nặng nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần, Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó tránh và có thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc phải ở vậy nuôi con, dù có "lắm mối" mà tối vẫn "nằm không". Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có. Hai sao này phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ nặng nhẹ, số lần tan hợp còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.
Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia đạo nhiều lần, đặc biệt là khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.
Tử Vi, Tham Lang hội Tả, Hữu: Riêng Tả, Hữu ở Phu ám chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai đời chồng hoặc nếu Mệnh, Thân có nhiều sao tình dục thì có chồng và có cả nhân tình.
Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì Thiên Hình chỉ sự ghen tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám chỉ một vụ ngoại tình nào đó của người chồng (hay vợ) làm đổ vỡ gia đạo, sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính quá ghen tuông của người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn có Đào Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường tái diễn và việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.
Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có phần nặng hơn vì Thiên Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi Đào Hoa có thể chỉ bay bướm lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa là chồng ngoại tình song đây cũng là cách gái hại chồng, phản chồng để thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ khi Riêu thủ ở Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng, ngoại tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương tích) hoặc kiện ly dị.
Đào Hoa hay Hồng Loan gặp Hóa Kỵ: không nhất thiết phải có hai chồng. Chắc chắn nhất là bộ sao này chỉ sự đắc mèo của chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu là có sự lục đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan chính thì vấn đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa "phu". Nếu nhân duyên bị gián đoạn, người đàn bà tái giá rất nhanh, nhờ luôn có kép hờ.
Long Trì, Phượng Các, Tả Hữu: Long Phượng chỉ hôn nhân, còn Tả Hữu ngụ ý có sự song đôi hay tái sinh, tái hợp nhiều lần. Vì bản chất tốt đẹp của Long Phượng nên trong cả hai lần, phụ nữ đều gặp nhân duyên ưng ý.
Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng và vợ đi đôi với Tả Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình hoặc tình trạng có gia đình mà có nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng sáng, hai mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ ám, thường là ngang trái, chia ly.
Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.
Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Riêu: Cự ở Phu chỉ trắc trở gia đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu chỉ sắc dục. Đây là trường hợp ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự ở Phu thường chỉ hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình xác thịt cho nên cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh lý.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới hợp thức hóa (tiền dâm hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ hoặc chồng có một đời con trước rồi mới họp nhau.


CÁCH ĐA PHU TẠI CUNG MỆNH HAY THÂN:


Đào Hoa hay Hồng Loan với Thiên Riêu: đa tình, đa dâm, dù đã có chồng.
Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung: chỉ sự dâm đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi và vô điều kiện. Riêng bộ Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự hiện diện của sao Thai còn có nghĩa "không chồng mà chửa".
Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn đề sinh lý và là biểu hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do thể xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp Riêu tại đó thì có thể là giang hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.
Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục: Mộc Dục và Hoa Cái chỉ sự chưng diện, se sua và háo dâm. Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm đãng vào tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh lý. Đây là người chưng diện sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi người phải chết mê, chết mệt vì họ.
Tướng, Khúc, Mộc, Cái, Đào: chỉ sự hoa nguyệt của hạng người quý phái, ngoại tình với các nhà tai mặt, quyền thế, sang trọng.
Tham Lang hay Thất Sát ở Dần, Thân: chỉ người con gái bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái hay quyền lợi hơn là vì tình yêu
Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội thêm Tả Hữu, có thể có hai đời chồng.
Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng trong tình trường, cụ thể như gặp nhiều mối tình hết sức ngang trái hoặc phải tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử. Người đàn bà như vậy gặp nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng tan, mỗi lần như thế đều phải điêu đứng, đau khổ, có khi đến tự tử (sát tinh).
Chính tinh hãm địa ở Mệnh: cũng là một bất hạnh có thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm Tham không bao giờ hợp với phụ nữ về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể quyền quý cao sang nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn, chắp nối.


CÁCH ĐA PHU Ở CUNG NÔ:
Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có chồng.
Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên Đồng: háo dâm, hay thay đổi tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ có Riêu ở Mão, Dậu thì tương đối kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh giá, tai tiếng. Nếu có Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn thận, nhờ tài khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa là yêu trộm, thương thầm, có khi chỉ một chiều.
Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang chạ.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể có thai. Thông thường, có sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục Binh và Tướng Quân chỉ thủ đoạn, làm liều, táo bạo. Và cũng vì có Phục Binh nên có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình bị bắt ghen tại trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.


CÁCH ĐA PHU Ở CUNG TỬ:


Khi cung Tử là âm cung thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai chồng:
- Thiên Tướng, Tuyệt
- Thái Âm, Thiên Phúc
- Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung
- Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu
- Phục Binh, Tướng Quân
- Thai, Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.


CÁCH ĐA PHU Ở CUNG THÊ CỦA PHÁI NAM:


Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.
Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm hay ngoại tình.
Đào, Thai hay Hồng Riêu hay Riêu Thai: vợ ngoại tình, lang chạ, đôi khi mang con người về cho chồng nuôi.
Thất Sát hay Phá Quân ở Thìn, Tuất: vợ hai lòng.


*.
Theo Tác giả ĐỖ VIỆT PHƯƠNG

Cung Phúc Đức và các vấn đề liên quan đến Mộ Phần



CUNG PHÚC VÀ MỘ PHẦN


Nói về mồ mả (âm đức, âm phúc) của lá số, sách Tử Vi khá dài dòng về thế đất, mộ huyệt... kết hay không kết? Kết như thế nào? Đương số và dòng họ (dương đức, dương phúc) được thừa hưởng ra làm sao?... Rất nhiều sách đã đề cập khá cụ thể, chi tiết nên tôi không đề cập đến vì thực sự không cần thiết. Muốn biết cụ thể, bạn giở sách Tử Vi, phần cung Phúc - Đức ra đọc, sẽ tiện mà lại dễ hiểu.”. Để bổ sung những thắc mắc mà bạn đọc muốn biết về mộ phần của cung Phúc, Đào Anh Dũng tôi xin tổng hợp bài viết với tựa đề CUNG PHÚC VÀ MỘ PHẦN để bạn đọc tham khảo.
Xem cung Phúc có phần quan trọng biết mình ảnh hưởng phúc đức đời nào, mộ phần vị ấy ra sao. Đều tùy thuộc vào phúc đức thực tế của vị ấy, lại xem phần mộ, nếu như ở cuộc đất đẹp khác với cuộc đất lạc lõng. Trong việc này, có vai trò của vòng Tràng Sinh. Nhưng xin mở đầu trình bày từ các chính tinh để có sự liên tục.
Vì mộ phần thì có thể di dời, cho nên địa hình mộ trong lá số là địa hình ban đầu khi chôn cất (theo phong tục không cải táng) hay địa hình khi cải táng đầu tiên. Ví như cuộc đất lạc mộ, có thể di chuyển đến nơi đắc đạ hơn, thì tất nhiên số mệnh có sự cải thiện.
Các sao trong cung Phúc có ý nghĩa về đời tiên tổ (mấy đời tính cả bao gồm cả đời mình, như ông nội là tổ 3 đời), cũng như ý nghĩa hình thể, để hiểu hết hình thể cung Phúc, nên có kiến thức vềphong thủy nhất định.


I. CÁC CHÍNH TINH:

1. Tử Vi:

- Mộ thượng tổ (tổ cả họ, chi họ). Nếu hãm: viễn tổ, có khi là tổ xa xôi hiện gia phả không cho biết rõ ràng được. Dương mộ.
- Có sơn khí khá lớn, tùy vùng mà định đoạt, nếu là vùng sơn cước, ắt có khí từ tổ sơn to lớn triều lại, nếu trung du, đồi núi vừa phải, cũng có sơn phong chủ chốt của vùng ấy, nếu xét bình địa thì có Thủy khí triều tụ, và có chỗ đột khởi vì theo phong thủy thì "cao nhất thốn vi sơn", nghĩa là có gờ đất nổi dậy, khá rõ với địa bàn bàng phẳng chung quanh. Mộ có sơn rõ rệt thì sơn đó thuộc ThổTinh.
+ Tử đắc địa, không có cách xấu xâm phạm: mộ tổ đã xa mà còn phát.
+ Tử gặp Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp: mộ thất lạc, hoặc có người "chôn ké" cuộc đất bên mộ. Nếu mộ thất lạc, có Lục sát mà có thêm Tuần Triệt: tìm lại được.
+ Tử ngộ Triệt: mất mộ, chết không chỗ chôn, hay sa vào hoang địa.
+ Tử Mão Dậu: mộ để cạnh đền chùa, thờ tự, hay chôn đất chùa.

2. Liêm Trinh:

- Mộ 7, 8 đời, thuộc về cao tổ (có nhà cho mộ chú, bác không phổ biến)
- Đất Hỏa tinh, vùng núi thì sơn cao, nhọn, ngọn lởm chởm (nếu thêm Hỏa Tinh hay các sao Hỏa càng rõ). Về bình địa: đất khô, gồ ghề, có màu vàng đỏ, nổi cao. Dương mộ.
+Liêm gặp Tồn,hay Tướng: mả đắc địa.
+ Liêm ngộ Sát, Phá, kiêm hao sát tinh: mộ đất bỏ hoang vu, ít coi sóc

3. Thiên Đồng:

- Mộ tổ 4 đời. Đắc địa, cách đẹp: 3 đời.
- Mộ để đất bình địa,lại có thủy khí (nước), tượng trưng: chỗ đất lõm (đê nhất thốn vi thủy), kinh nghiệm đa phần cho thấy có nước thực sự gần mộ. Về đồng bằng: chôn đất thấp. Về trung du, miền núi: đất bình nguyên, rải rác tinh phong thấp nhỏ thuộc về Thủy Tinh (uốn nếp lòng vòng). Dương mộ.

4. Vũ Khúc:

- Tổ 5 đời.
- Đất cao ráo, khô, thóang đãng, hơi trống, nổi khum khum. Vùng đồi núi: núi cao, mỏm tròn trịa, trông như chõ, như chuông, lại giống như ngọc ấn. Dương mộ.
+ Vũ - Triệt: hành lộ khùng khuỳnh quanh mộ: ý nói có đường đi uốn khúc bên cạnh.
+ Vũ ngộ Tham Khoa: đất phát anh hùng, họ nhiều tay anh hào.
+ Vũ - Tham: phát về võ, đi xa càng phát.
+ Gặp Kình Đà Kị Hình Khốc Hư: cuộc đất hỏng.
+ Tuần - Triệt- Phá: cuộc đất không toàn vẹn, nhưng phát thủ công kĩ thuật hay tay.

5. Thái Dương:

- Mộ ông (3 đời), hãm: 4 (ông cố). Sách bàn thêm, nếu ông còn thì có đắc địa vẫn là ông cố; nếu miếu địa, không sát tinh: mộ cha, đồng thời phải thân chinh đến khu vực nghĩa địa xem có phải mộ tốc phát hay không, mới có thể quyết.
- Đất bằng phẳng, quang đãng, phương kì, thuộc dương long dương hướng. Thảy Dương mộ.
+ Tuần triệt: đất hoang lạc.
+ Hóa Kị: chôn sai thế, sai hướng.

6. Thiên Cơ:

- 6 đời.
- Đất phát mộc, cỏ cây xanh tươi. Dương mộ. Đất bình nguyên.
+ Cơ - Triệt - Toái: hậu đầu mộc xiên (tinh phong hình Mộc đâm chĩa sai hướng về sau mộ) họ hay hạn chết chóc, gỗ đè, ngã cây, ngã lầu, về hạn cũng rất cẩn thận.
+Thai Dưỡng Cái Hồng: phát.
+ Dương Đà: hết phát.

7. Thiên Phủ:

- Mả tổ (đóan như Tử Vi). Hãm: viễn tổ không xác định.
- Cuộc đất lớn. Vùng núi: cuộc tổ sơn. Không nhất thiết Thổ Tinh. Cũng dương mộ.
Cách cục: xem như Tử Vi.

8. Thái Âm:

- Mộ bà nội. Miếu (mẹ đã mất) + quan sát thực địa tốc phát: mộ mẹ.
- Phúc phát chỉ ứng dụng cho ngành thúc (chi dưới), người em, và người thuộc mệnh Kim hay sao Kim thủ Mệnh.
- Đất uốn cong, chạy dài, phì mãn, hình như cặp mày (bán nguyệt), cuộc đất trong mắt thường hay mắt phong thủy đều thấy hữu tình, mĩ miều. Âm long, âm hướng.
+ Tuần Triệt: hoang vu, lạc lõng.
+ Kị: chôn sai cách cục, úng thủy.
+ Khốc Hư Đà Kình Hình Kị hay lạc Không Vong: phù hoa giả tạo, chủ sinh ra người ưa phù phiếm,văn chương sáo rỗng, có xu hướng đồng bóng mê tín, mắt kém, thực chất không phát.

9. Tham Lang:

- 6 đời. Lạc nhàn: 7
- Đất khuyển hình (con chó), tức cũng mộc tinh. Sắc đen. Nhiều cây cỏ. Vùng núi: tinh phong cao dày, mộc hình (dù Tham Lang thuộc Thủy)
- Tham Vũ Khoa Quyền: mộ phát, song toàn văn võ.
- Ngộ Tử, Vũ: phát hay lắm.
- Không - Kiếp hay Tuần Triệt: cao thấp không đều, lổn nhổn, mạch bị cắt, nhưng không tác họa ghê gớm gì.
- Ngộ Liêm: xương cốt đã hư nát rồi, thậm chí mộ chôn tượng trưng, hoặc mộ để đất rất hung hiểm, đáng ngại.

10. Cự Môn:

- 7 đời.
- Bình địa: đất vuông vức như giải chiếu, sắc đất vàng. Cao nguyên: đồi núi vuông vức, mỏm bằng. Thường gần công sở, công trình công.

11. Thiên tướng:

- 5 đời.
- Ở đâu cũng vậyđều thuộc đất bằng phẳng và cao, cuộc đất trông như cái ấn (con dấu cổ).
Nếu không hãm đều là mộ phần chôn cất đúng hướng đúng vị.
+ Ngộ Phá Triệt: xương tiểu lẫn lộn cả đất xấu, hư nát.

12. Thiên Lương:

- 7, 8 đời.
- Đất rời rạc khô nỏ, pha cát sỏi. Đắc, không bị xâm phạm: mộ phần chôn kiểu đất có hậu chẩm rất tốt (Chẩm: "gối", chữ này viết rất giống chữ Trữ "thoi dệt vải "nhưng không phải chữ ấy). Đây là 1 cách mộ đẹp. Tất cả miếu vượng đắc hãm: đất có hình xà (không phải xà là "rắn" mà là "xà nhà" (thượng lương): có gờ đất nổi chạy dài.

13. Thất Sát:

- mà xa đời (cũng 7, 8 đời).
- đất khô, nóng, sắc đỏ, cuộc đất tròn thẳng và dài. Kim hình kiêm Hỏa.
+ Sát - Phá - Phục ngộ Triệt: gây nên họa chiến chinh (tử trận) cho con cháu.
+ Cùng Tử vi - Khoa - Quyền: long hổ chầu phục, hổ lớn hơn long, chủ phát về võ, anh hùng.
+ Không, Kiếp, Đà, Diêu, Tuế: chỉ có tả thanh long, nghèo hèn, họ hiếm người.

14. Phá Quân:

- xa đời.
- đất tản lạc, hình thểvô địch, sơn phong khó hiện như thù ti mãtích, hay bị sụt lở. Xếp vào Thủy tinh bên phong thủy.
+ Triệt - Phá: mộ ven đường, gọi là "lộ bàng mộ".


II. TRUNG TINH:

1. Văn Xương: đất cứng, hình tròn
2. Văn Khúc: thủy đáo đường (thủy lượn quanh mộ)
4. Thiên Khôi: hình mũ, nổi cao, hình đầu người. Phát văn.
5. Thiên Việt: đất hình búa rìu, phát võ.
Các sao trên đều chủ về mộ tổ 3 đời (ông nội), nếu tụ tập đông đủ Khôi Việt Xương Khúc: ông nội để phúc to, nhà ấy con cháu khiến tông đường rạng rỡ.
6. Văn Tinh: mộ có bút sơn, thường là bút học vấn hơn là bút phù thủy.
7. Tả phù - Hữu bật: đất vừa phải không cao, không có đồi núi to lớn, hình như vành khăn vấn đầu ngày xưa, hay đồi núi lờ mờ nhỏ bé.
8. Lộc Tồn: vuông vắn cân phương, sách nói cuộc đất thương khố (kho)
9. Hóa Lộc: Hình Cờ, hình Thương Khố. Có sách nhận nhầm "Thương" (kho) này với binh khí (lưỡi thương: 1 loại binh khí hay thấytrong Tam Quốc).
10. Hóa Khoa: cuộc đất có bảng.
11. Hóa Quyền: cuộc đất có "an bản" (tức yên ngựa), có người đã lưu truyền là"văn bản" là không hiểu hình gì, có nhẽ do nghe nhầm.
12. Kình Dương: - Mộ có cách voi phục. Đắc: có bút sơn loại tốt. Chủ phát khoa bảng, ăn học thành tài. Hãm: tinh phong dòm ngó tức như con chó đá (thạch đầu khuyển) tức mỏm nhọn lởm chởm chầu chực vào, hay gây sự va chạm và khó khăn, có khi hay phát những "tài lạ" như phù thủy, đạo sĩ, mê điều huyền hoặc (ví như phát các ông nói ra các đạo rất kì quặc), cũng có khi phát bút họa sĩ, trừ dư là họ tài văn bất mãn, thi khó đậu, bất đắc chí.
- Có thêm Hỏa Linh Tấu: bút này mới là hay và sinh văn tài hay chữ lắm.
- Hồng Loan, Kình dương: thế đất mày ngài (nga mi) tức bán nguyệt. Gọi là "nga mi tác án"
- Kình hay Đà ngộ Không: có mả đạo táng, tức là có mả chôn trộm (người khác ké trộm)
13. Đà La: hình răng lược, pha cát.
- Đà ngộ Mộ, Dưỡng (đ.c): có người để trộm mả
- tùy chính tinh, nếu hãm, hoặc gia Không Kiếp: mả để sai lạc
14. Hỏa - Linh: đất khô, nóng, sắc đỏ, mả phát hình bút. Có bút sơn triều tấu, nhất là Linh tinh, sinh bút hay lắm, nhưng chính tính phải miếu vượng, không ngồi thủy địa.
15. Không - Kiếp: Hãm địa xảy ra các trường hợp: mất mộ (thất lạc), chết hiểm không được hương khói, mộ âm hồn, mả chôn sai quá đỗi lạc đất hung hiểm, mả chôn sơ sài bên đường, thậm chí không được chôn cất. Đắc: có mất mộ. Trừ dư là mộ phần khô khan nóng nảy quá, không có thủy khí
- Ngộ Kiếp Không hay Tuần triệt: mất mộ vùng hoang địa.
- Kiếp Không Khốc Hư Hình Kị (hay Kình Đà): bạch tang.
- Quan phù - Tử phù: tổn thọ, lạc mộ
- Không kiếp Mã: mả lạc vô cùng, có long có hổ nhưng cả 2 đều ngoảnh mặt đi, sinh người ăn chơi, phiêu dạt, thích giang hồ tứ xứ, hoặc đi xa sinh kế vất vả, hay chết đường, tai nạn giao thông (gọi là lộ tử).
16. Đào Hoa: mả nổi lùm như bình bát.
17. Hồng Loan: bán nguyệt, các cách cục chim muông trong phong thủy. Thêm Thanh long là có thứ thủy (nước) trong sạch tụ thủy.
18. Long trì: gần ao chuôm, hay giếng
19. Phượng các: gần nhà của, lâu đài, đất đỏ, cách cục chim muông.
- Phát về mộ mới, tức chữ gọi là"tân phần" (giống như Hỉ Thần, Hoa cái)
20. Quang - Quí: có ân nhân đê mộ cho, có nhân đức tổ tiên phù hộ: "ân quang báo ứng tiền nhân ân quang sinh nghĩa 10 phần báo ân"
21. Quan - Phúc: Mả chôn gần đền miếu chùa chiền thần hoàng, nơi thờ tự nói chung, nhà có phúc lớn. chịu ảnh hưởng Mả 2 đời. Đất có địa linh.
- Quan Đà Kị: mả táng hắc vân, tức kiểu mộ u ám, cũng hay sinh đầu óc ưa huyền bí, u hoặc, đồng bóng.
22. Thai - Tọa: trên trời sao Tam Thai có 3 ngôi, sao Bát Tọa 8 ngôi, rất đẹp, nhưng cổ nhân nói mộ được cách Tam Thai Bát Tọa như trong sách phong thủy mô tả e rất khó, vì theo sách phong thủy cuộc đất Tam Thai - Bát Tọa rất khó kiếm. Cuộc đất Thai Tọa này cũng là chỗ "đấng vàng" mà sấm Trạng Trình có nói, vậy kiểu đất này hiếm hoi lắm. Thực tế Thai Tọa chỉ là mộ yên ổn thôi.
23. Hoa Cái: hình lọng, hình hoa, hình bát. Cũng chưa chắc chắn, chỉ là cuộc đất đẹp đúng kiểu cách nói chung. Phát mộ mới. Cung Phúc có cách tiền Cái hậu Mã rất đẹp. Mả ấy phát nhanh lắm, làm sang (phát quí hơn phú).
24. Thai Phụ: tamgiác
25. Phong Cáo: vuông
26. Thiên hỉ: đất phù sa, đất bãi (bằng sa) mả phát, phát về mộ mới.
Trên đây là những lời luận còn rất đơn sơ, thiếu sót, muốn xem tinh hơn phải kết hợp thêm kiến thức phong thủy, có thể xem bản đồ 12 cung Tử Vi tương tự như bản đồ phong thủy, lại tham khảo tính chất ngũ hành, ví như sao hành Hỏa thì tinh phong cũng thuộc Hỏa, hình thế địa lí là Hỏa, lại căn cứ âm dương của sao mà định là dương long hay âm long, dương hướng hay âm hướng.
Về địa đồ, lấy 2 cung giáp làm tả hữu, lấy cung xung chiếu làm minh đường, tam hợp làm cách cục. Lấy sao Thanh long làm Tay Long, sao Bạch hổ làm Tay hổ, coi ở phương vị nào tất long hổ ở về phương vị ấy.
Lại lấy Tràng Sinh làm khởi tổ, lấy Thanh long làm Long hành (long đang đi), nghĩa là chỗ đó chưa để huyệt được.Xem đến phương nào nhập Mộ là khí tụ,lại xem có sao Thủy cung Thủythì mới có ThủyKhí.
Bất cứ đắc vượng thế nào, cần có Phượng Cái và nhất là Song Hỷ thì mộ mới kết phát rõ rệt.
Hiện nay thời thế đổi khác, không mấy ai xem về phong thủy mộ phần, và điều kiện xã hội cũng không cho phép, nhưng về phần mộ sợ nhất là Mộc Dục là kết nạp Bại Thủy, còn đáng sợ hơn Tử.
Người xưa có luận về Vòng Tràng sinh và đại hình phong thủy, nhưng cốt yếu chưa phải ở đấy, mà ở chỗ ảnh hưởng rộng rãi về cõi phúc ra sao, rất là quan hệ.
1. Tràng Sinh: Tràng Sinh - Đế Vượng ta hay nói đa đinh. Nhưng tràng sinh là chỗ ngũ hành sinh ra, khí vẫn đương non nớt và chủ sự di động, không hợp với cung Phúc. Về hình thế hay nói có thủy bao bọc, nhưng xét đây chưa phải chỗ thủy tụ, cũng chỉ là chỗ thủy đương xuôi chảy. Xét sơn khí, đây cũng chưa phải chỗ núi dừng kết huyệt.
Về nhân sinh, cung Phúc có Tràng sinh tất sinh người có trí, lại năng động, ưa điều tiến bộ, nhưng chưa chu đáo, cuộc sinh kế tuy có sáng kiến mở mang, song hao sức bươn chải, làm nhiều hơn tụ. Mệnh nhị hợp với tràng sinh lại tốt, hay may mắn khỏe lẹ, được phúc đức phò trợ. Trừ dư không được hưởng phúc tổ nhiều, mả có kết phát cũng người khác được hưởng.
2. Mộc dục: Phúc bại, ưa sắc dục, trong họ hay có tình duyên ngang trái. Bản thân cũng vất vả, đời trôi nổi, coi thêm cung Tật để định bệnh sắc dục, yếu sinh lí, hay mắt kém, thận suy, phát tác vào tuổi trung niên. Khí nhà không còn vượng. Tính nết bồng bột
3. Quan đới: Khí nhà đã bộc lộ khởi từ vị trí này. Chủ mạnh mẽ về đường thanh quí, nhưng khả năng giải họa chỉ bình thường thôi. Bản thân triển vọng, có bôn ba cũng thành công đã hẹn.
4. Lâm quan: Là ngũ phúc đáo đường. Tính giàu độc lập, cơ nghiệp bền vững, lâu dài, đảm đương cán đáng. Chủ phú quí thọ, giải họa rất mạnh.
5. Đế Vượng: đừng tưởng Vượng tại Phúc là hoàn mĩ. Các đời đều có đế vượng trong Phúc thì họ đa đinh, nhân mãn nhưng bất tài, dòng họ không lấy gì làm phát. Đương số nếu cung Mệnh đẹp thì thành công sớm nhưng dễ chịu cảnh chóng tàn. Về phúc thọ vẫn được thừa hưởng, khả năng giải họa vẫn có, thời không được như Lâm quan thôi.
6. Suy: mả này còn phát. Nếu cung Mệnh đẹp không hề gì, vẫn thành công như thường.
7. Bệnh: số cực, không có phúc phò trợ
8. Tử: Không phải Tử mà xấu, vẫn có phát nhỏ. Thường có âm đức vừa phải, nhưng kị đi với Tử phù.
9. Mộ: phúc đẹp, mệnh đẹp thì phát phúc, âm đức mạnh, giải họa.
10. Tuyệt: mộ vô khí, bị xâm hại. Đương số thân tự lập, nhưng chí lớn nếu xét mệnh đẹp, không thì cố sức vẫn bất toại. Ở đây phải biết nếu sao trong cung ấy đắc vượng thì không tuyệt nữa.
11. Thai: Cách này phù hợp kẻ Sát Phá Tham và Không Kiếp đắc vượng. Chính tinh ở Phúc vượng thì số rất hay, có mộ mới kết phát, phúc phát độ trung niên, khi đó lên rất chóng. Cung Phúc sao chính tinh hãm gia sao xấu thì cả đời bất hiển. Chính tinh hãm, thêm có trung tinh đắc cách phò trợ, mệnh đẹp vẫn nên quan nhưng tai họa bất ngờ, bệnh tật và không hạnh phúc về nhân sinh.
12. Dưỡng: là cách phúc đẹp, ngay cả khi sao Tuyệt thủ mệnh vẫn không phải mệnh tuyệt khí, do đó mà ta thấy nhiều người mệnh có sao Tuyệt vẫn hiển đạt bình thường. Đây ví như khí phúc còn đương vun vén tài bồi.
Những sao kể trên phải kết hợp với chính tinh, cách cục các sao, lại xem thêm cung Mệnh cho việc luận đóan được chu tất. Ví như Tràng Sinh - Đế vượng cư phúc chưa phải là hay, nhưng nếu chính tinh hãm địa thì Sinh vượng có thể phù nó, nhưng chính tinh miếu vượng địa thì Đế Vượng Tràng Sinh ở đây lại tiết giảm sức của sao đó, hay chóng nở chóng tàn. Sao lạc nhàn gặp Lâm quan, Dưỡng, Quan đới thì không nhàn, sao miếu vượng gặp các vị này thì duy trì sức được bền lâu. Cứ trên nguyên tắc ấy không câu nệ đắc hãm thái quá. Đem áp dụng vào cung Mệnh cũng vậy, nhưng các sao vòng Tràng Sinh ở cung Mệnh lại ngụ ý khác, xem ra cũng tương tự Tử Bình, như Lâm quan thì hay khoác lác, đại ngôn, ham hố địa vị, Quan đới tuy hiển nhưng nếu thêm Kiếp sát thiên hình là dây oan, thêm Đào hồng kị thì tình oan trái... Đó là việc riêng của cung Mệnh, không phải ở Phúc
*
Tác giả : ĐÀO ANH DŨNG

Người thân cư phúc đức thì như thế nào?

MẪU NGƯỜI THÂN CƯ PHÚC ĐỨC



Những người sinh vào giờ Sửu (1am đến 3am) và những người sinh vào giờ Mùi (1pm đến 3pm) đều có số Thân cư Phúc Đức. Trước khi nói đến những nét đặc biệt của mẫu người này chúng ta hãy bàn qua vài ý nghĩa căn bản của cung Phúc Đức. Trong những chương trước chúng ta có nhắc đến một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là nếu Thân cư vào cung nào thì cung đó trở thành lãnh vực chính yếu trong cuộc sống của đương số. Bởi vậy, ý nghĩa đơn giản đầu tiên của cung Phúc Đức là nói về phước đức của đương số có được là do chính bản thân tạo dựng nên hay là do thụ hưởng từ ông bà, cha mẹ, hay của giòng họ nói chung. Cho nên, từ quan niệm đó, khoa Tử Vi xem cung Phúc Đức như nền tảng của một lá số. Nó có thể cứu giải hay làm chiết giảm đi độ số tốt xấu của cung Mệnh hay của một đại hạn, tiểu hạn v.v…Nói một cách khác, cung Phúc Đức cũng như gốc rễ của một cái cây, nếu gốc rễ tốt thì cho dù một vài nhánh cây hư hỏng thì cây cũng có thể ra hoa, kết trái. Nếu gốc rễ đã bị úng thối thì cành cây bên trên dù có xanh tươi thì cũng chẳng được là bao lâu. Cũng có thể đơm hoa kết qủa những cũng không thể tồn tại lâu dài được.

(Tác giả Lưu Xuân Thanh)

Từ đó chúng ta có một quan điểm đặc biệt đầu tiên của người Thân cư Phúc Đức. Cuộc đời của họ sướng hay khổ, thành hay bại không hoàn toàn do chính khả năng của họ mà phần nào do những trợ lực khác như được người nâng đở, hay thường gặp những vận hội may mắn nào đó. Điều này dễ nhìn thấy ở các lá số Thân cư Phúc Đức mà cung Phúc Đức lại được mọi điều tốt đẹp thì cuộc dời của những người này thường gặp được những may mắn kỳ lạ, giúp họ thành công dễ dàng, hoặc họ có thể vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, tai nạn mà không ai có thể ngờ được.
Ngược lại, chúng ta cũng thấy có những người Thân cư Phúc Đức nhưng cung Phúc Đức lại xấu xa mờ ám, cho dù các cung chính yếu Mệnh, Tài, Quan…đều tốt đẹp nhưng chắc chắn cuộc đời của họ vẫn gặp nhiều cảnh thăng trầm.
Như vậy, phải chăng đối với người Á Đông chúng ta thì Phúc Đức là một yếu tố siêu hình đã ảnh hưởng phần nào trong cuộc sống của một đời người?
Một quan niệm khác của khoa Tử Vi đối với cung Phúc Đức là cung này biểu tượng cho cả một giòng họ. Qua cung Phúc Đức mà chúng ta có thể nhìn thấy một cách đại cương về giòng họ của đương sự. Như vậy, những người có Thân cư Phúc Đức thì đặc điểm thứ hai chính là sự liên hệ chặc chẽ của cá nhân đương số với giòng họ của mình. Tùy theo sự tốt hay xấu và ý nghĩa của cung Phúc Đức. Có người tuy khả năng, tài đức không có gì đáng nói cả nhưng vẫn có địa vị chức tước hay bổng lộc nhờ vào sự nâng đở của bà con.
Ngược lại, cũng có người được may mắn, có công danh sự nghiệp, giàu sang phú quý, cũng vì cái tình gia tộc mạnh mẽ, họ phải vươn dài cánh tay đễ cưu mang cho cả giòng họ. Đó là trường hợp mà ông bà chúng ta thường nói: “Một người làm quan, cả họ được nhờ.”
Và một điểm đặc biệt sau cùng của mẫu người này là những gì tốt xấu của cung Phúc Đức sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ sau khoản tiền vận, nghĩa là thời điểm đương số thực sự lăn lộn vào đời. Cung đối diện Phúc Đức là Tài Lộc, và đó cũng là cung đầu tiên chịu ảnh hưởng nặng nề những sự tốt, xấu của cung Phúc Đức. Cho nên người Thân cư Phúc Đức sẽ có những thay đổi khá rõ rệt trong khoản thời gian lập thân. Cuộc sống của họ có thể sung sướng hơn nếu cung Phúc Đức tốt đẹp, hoặc cực khổ hơn nếu cung Phúc xấu, nhất là trên vấn đề tiền bạc.
Tóm lại, mẫu người Thân cư Phúc Đức là những người có tinh thần gia đình, gia tộc rất mạnh. Họ thích cuộc sống đại gia đình và giữ được những liên hệ mật thiết với tất cả bà con trong giòng họ dù gần hay xa. Đây là mẫu người rất nặng tình quê hương. Họ thường lớn lên và sống suốt đời tại nơi chôn nhau cắt rốn của mình chứ không muốn ly hương hay sống rời xa giòng họ của mình.
Đi xa hơn, cung Phúc Đức trên một lá số cũng tương tự như lãnh vực âm trạch của khoa Phong Thủy, tức là chuyên về mộ phần. Qua cung Phúc Đức, chúng ta có thể nhìn thấy những nét tổng thể về mộ phần của một giòng họ, như mộ phần của một người nào phát, mộ phần của ngườ nào hư, hoặc có thể biết được mộ phần của người nào đó trong giòng họ đã kết phát và đang đặc biệt phò trợ cho đương số.
THEO NGUỒN TƯ LIỆU:
- Ấn phẩm: CUỘC ĐỜI VÀ SỐ PHẬN
- Soạn giả: Nguyễn Phúc Vĩnh Tường
*
LƯU XUÂN THANH cẩn bút giới thiệu
(Tên thật: Lưu Quang Thái)

Người thân cư phu thê thì thế nào?



MẪU NGƯỜI THÂN CƯ PHU/THÊ


Dù trong thời đại nào, dù phương Đông hay phương Tây thì gia đình vẫn luôn luôn là nền tảng của xã hội. Trong khoa Tử Vi Đẩu Số gia đình được thể hiện qua hai cung Phu Thê và Tử Tức. Hai cung này nói lên những vấn đề vợ chồng, con cái của mỗi người. Chúng ta vẫn thường nghe câu: "Sau lưng một người đàn ông thành công là một người đàn bà đảm đang tài giỏi." Có phải vì vậy mà cung Phu Thê của người đàn ông có tầm quan trọng không kém gì hai cung chính là Quan Lộc và Tài Bạch? Còn đối với phụ nữ thì cung Phu Thê lại càng quan trọng hơn. Sự đánh giá này rất hợp lý với thời phong kiến xa xưa. Trong xã hội phong kiến, người đàn bà chỉ là cái bóng mờ, hầu như không có những sinh hoạt nào ngoài xã hội. Và cuộc đời của họ như thế nào cũng do cung Phu Thê của họ định đoạt mà thôi. 

Thật đúng với ý nghĩa "xuất giá tòng phu"


(Tác giả Lưu Xuân Thanh)

Ngày nay, người đàn bà đã ra ngoài xã hội, đã có vai trò và vị trí không thua kém gì người đàn ông. Nhưng dù sao, đối với quan niệm của người Á Đông chúng ta thì không phải vì vậy mà sự quan trọng của cung Phu Thê bị giảm đi. Trong thực tế hai chữ "gia đạo" lúc nào cũng là nền tảng của cuộc sống con người trong bất cứ thời đại nào hay xã hội nào. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ ràng và đậm nét trong mẫu người Thân cư Phu Thê.
Những người sanh vào giờ Tỵ (từ 9am tới 11am) hoặc giờ Hợi (từ 9pm tới 11 pm) thì Thân sẽ nằm vào cung Phu Thê. Người ta cho rằng rằng ông có Thân cư Phu Thê là số được nhờ vợ và nể vợ. Đàn bà có Thân cư Phu Thê là số nhờ chồng và nể sợ chồng. Điều này không đúng, chúng ta sẽ bàn đến sau.
Mẫu người Thân cư Phu Thê có nhiều nét đặc biệt, nhất là trên lãnh vực tình cảm. Người Thân cư Phu Thê thường gặp người chồng/vợ mình trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Họ gặp nhau và có tình cảm với nhau như đã quen biết nhau từ kiếp trước, nay lại gặp nhau để xây tiếp lâu đài tình ái còn đang dang dở, hoặc trả tiếp cho xong cái duyên nợ chưa tròn, tùy theo lá số của mỗi người.
Từ nét đặc biệt đó mà người Thân cư Phu Thê có một cuộc sống ràng buộc nhau rất mật thiết. Sự ràng buộc chặt chẽ này có thể do từ tình cảm tốt đẹp mà họ có được, nhưng cũng có thể là vì hoàn cảnh mà họ phải chịu trói buộc với nhau. Hình ảnh bị trói buộc với nhau vì hoàn cảnh điển hình nhất mà chúng ta đã thấy trong thời gian trước đây đó là hình ảnh của cựu Tổng Thống Bill Clinton. Dù đang gặp một hoàn cảnh đắng cay, hay có thể nói là "còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi" Nhưng họ vẫn ở bên nhau, xuất hiện bên nhau trên truyền hình, trước công chúng đễ diễn tiếp cho xong vở tuồng mà họ phải diễn.
Nói một cách khác, trong lĩnh vực tình cảm, người Thân cư Phu Thê thường có một cuộc sống khăng khít với nhau, cho dù trong những trường hợp cuộc sống không được hạnh phúc hay gặp những hoàn cảnh ngang trái, dường như có một sợi dây vô hình nào đó cứ buộc chặt họ lại với nhau, không chia ly dễ dàng như những người khác.
Ngoài sự ràng buộc trong vấn đề tình cảm, người Thân cư Phu Thê còn có sự ràng buộc trong lãnh vực nghề nghiệp. Hầu hết họ và vợ/chồng của họ là những người làm cùng ngành nghề hay cùng chung một cơ sở thương mại với nhau. Có thể không cùng nghề nghiệp nhưng công việc của hai người luôn có sự liên hệ và hợp tác hổ trợ cho nhau.
Ngoài ra, người Thân cư Phu Thê thường có thêm một nghề tay trái nữa. Nghề tay trái này lúc đầu chỉ như một cái thú tiêu khiển của đương số, hoặc cũng có thể như một nghiệp mà họ phải theo đuổi. Dần dần có thể trở thành một lãnh vực sinh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của họ. Cũng có một số người thành công, thành danh bởi nghề tay trái này hơn là nghành nghề chính của họ. Bây giờ chúng ta có thể trở lại với hai nghi vấn mà chúng ta đã đề cập lúc mở đầu:

1. Có phải những người Thâncư Phu Thê là cósố nhờ chồng/vợ hay không?

Đối với người Á Đông chúng ta thì chuyện "xuất giá tòng phu" là một quan niệm bình thường. Do đó, nếu một người đàn bà có số Thân cư Phu Thê mà cuộc đời phải nương tựa vào chồng của mình thì đó là một điều hợp tình hợp lý. Nhưng đối với nam giới, nhất là trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, một người đàn ông có Thân cư Phu Thê là bị phán ngay là số nhờ vợ thì cũng tội nghiệp cho đương số.
Để giải đoán cho phân minh, chúng ta phải cân nhắc giữa cung Phu Thê và cung Mệnh của đương sự. Chẳng hạn, người có Thân cư Phu Thê, nếu Mệnh của đương số yếu hơn cung Phu Thê (Mệnh nhược Thê cường) có nghĩa là người vợ của đương số có khả năng hơn chồng về mọi mặt từ trong nhà cho đến những giao tiếp ngoài xã hội. Như vậy chúng ta có thể nghĩ rằng những gì tạo dựng nên trong cuộc sống chung của hai người thì phần lớn đều do tay của người vợ. Đối với người đàn bà có Thân cư Phu Thê, vì bối cảnh xã hội ngày nay có khác, hai chữ "tòng phu" không còn nữa cho nên chúng ta cũng phải cân nhắc như vậy.
Ngược lại nếu cung Mệnh của đương số tốt đẹp, sáng sủa hơn cung Phu Thê (Mệnh cường, Thê nhược) thì đây không phải là số nhờ chồng/vợ. Trường hợp này thông thường thì hai người cùng làm chung một ngành nghề hay cùng chung một cơ sở làm ăn, họ cùng góp sức tạo dựng với nhau trong cuộc sống chung, dĩ nhiên họ cũng có những sự ràng buộc chặt chẽ với nhau như đã bàn ở trên.

2. Có phải người Thân cưPhu Thê là số nể,sợ vợ/chồng hay không?

Để trả lời vấn đề này, chúng ta cũng phải cân nhắc vấn đề mạnh và yếu giữa cung Mệnh và cung Phu Thê của đương số. Nếu Mệnh nhược Phu cường thì phải nể, sợ chồng là điều đương nhiên rồi. Chẳng hạn, lá số của một ông chồng có bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương thủ Mệnh, là bộ sao tiêu biểu cho văn cách nhưng cung Phu Thê lại có bộ sao Sát Phá Liêm Tham là biểu tượng cho võ cách. Trường hợp này việc điều hành từ trong ra ngoài cũng nhu vai trò chánh yếu trong gia đình đều do người vợ một tay thao túng hết.
Điều này chúng ta cũng thấy rõ những đấng mày râu tuy cung Mệnh không thua kém gì cung Phu Thê nhưng cung Phu Thê lại có các sao như Thái Âm, Hóa Quyền tọa thủ hoặc hợp chiếu thì đấy cũng là hội viên cùng hội với Thúc Sinh rồi.
THEO NGUỒN TƯ LIỆU:
- Ấn phẩm: CUỘC ĐỜI VÀ SỐ PHẬN
- Soạn giả: Nguyễn Phúc Vĩnh Tường
*
LƯU XUÂN THANH cẩn bút giới thiệu

Thái Âm Hoá Kỵ Luận Bàn






BÀN VỀ THÁI ÂM HÓA KỴ
*

Khi nghiên cứu về Tử Vi, hẳn bạn đọc sẽ có nhiều thắc mắc về thuật ngữ “Thái Âm hóa Kỵ”. Nhằm giải đáp phần nào thắc mắc của bạn đọc, Đoàn Mạnh Thế tôi xin giới thiệu bài viết có tựa đề BÀN VỀ THÁI ÂM HÓA KỴ để bạn đọc tham khảo.
Thái Âm hóa Kị, ý nghĩa phổ biến nhất là bất lợi đối với người thân phái nữ, nhất là ở cung vị lạc hãm thì càng đúng.
Nói "bất lợi" ở đây, không nhất định là bệnh tật hay tử vong, có lúc chỉ biểu hiện là thiếu duyên phận với nhau, hai bên khó thông cảm cho nhau, hoặc vì hoàn cảnh khách quan mà hai bên ít có cơ hội gặp nhau. Cần phải xem xét kỹ các sao Sát - Hình - Kị hội hợp thực tế mà định.
Gặp Thái Âm hóa Kị, cũng biểu trưng cho tình huống rắc rối về tình cảm, thường chủ về trong lòng có ẩn tình khó xử. Nếu gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, Văn xương, Văn khúc, thì đây là điềm tượng tình yêu không bình thường, nam mệnh phần nhiều chủ về có khuynh hướng "đồng tính luyến ái".
Thái Âm hóa Kị ở cung miếu vượng, thì ảnh hưởng đến tình hình lợi lộc, thường thường biểu hiện là trong đời người có một thời kỳ cảm thấy mình rất có tài mà không gặp thời. Nếu Thái âm hóa Kị ở cung lạc hãm, thì đây là điềm tượng không tốt; trái lại, sẽ ưa gặp Sát tinh "kích thích", chủ về có thể theo ngành công nghệ. Cổ nhân gọi là "thợ", nhưng ở thời hiện đại, cũng chủ về những ngành khoa học kỹ thuật.
Thái Âm hóa thành sao Kị ở cung Tý, đồng độ với Thiên Đồng. Đối với nữ mệnh thì rất ưa trang điểm, chải chuốt, làm đẹp, nhưng tính cách điệu nghệ thuật không cao, thường dễ bị người ta phê bình cách thức trang điểm của bản thân đương số.
Đối với nam mệnh thì có nội tài, dễ được người khác giới để mắt, nhưng lại thiếu duyên phận. Về hôn nhân, nam mệnh và nữ mệnh đều nên nhờ người giới thiệu, và nên kết hôn muộn, nếu không sẽ chủ về duyên phận không đủ.
Khi gặp hoặc Văn xương, hoặc Văn khúc, thì thường là văn sỹ nghèo nàn, thất chí, nhưng cũng có chút thanh danh.
Về sức khỏe phần nhiều chủ về bệnh ở mắt, như bệnh nốt ruồi bay, nếu có thêm các sao Sát Hình nặng, thì có thể bị mù.
Thái Âm hóa Kị ở cung Sửu, là Thái âm và Thái dương đồng cung. Vì Thái Âm hóa Kị nên gây lụy cho Thái Dương, khiến tăng thêm vất vả khổ lụy, và không có duyên với cha mẹ.
Cuộc đời và sự nghiệp có tính lưu động khá lớn, dễ thay đổi nghề, mà nghề thường thường cũng là loại "lao tâm tổn thần", cũng chủ về có lúc cuộc sống dễ chịu thì lại không có tinh thần làm việc, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp.
Thái Âm hóa Kị ở cung Dần, là "Thiên cơ Thái âm" đồng độ với Đà la, Thiên cơ đồng thời hóa Lộc. Nếu gặp thêm Hỏa tinh, Linh tinh, thì tình hình tiền bạc trong tương lai khá nghiêm trọng. Tham khảo thêm ở đoạn thuật "Thiên cơ hóa Lộc".
Thái Âm hóa Kị ở cung Mão, khá bất lợi về hôn nhân, tình hình dễ xuất hiện nhất là vợ chồng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, nhất là đối với nữ mệnh, nên kết hôn muộn. Nam mệnh thì phần nhiều sự nghiệp chìm nổi thất thường, chỉ thích hợp làm công hưởng lương, không thích hợp tự kinh doanh làm ăn, tự kinh doanh làm ăn sẽ dễ xảy ra trắc trở và thất bại.
Thái Âm rất ngại hóa Kị ở cung Thìn, hội Sát tinh, cần phải rời xa quê hương để phát triển, nếu ở bản địa sẽ gặp nhiều áp lực. Nếu có các sao Sát - Hình đồng độ, thì có lợi khi rời xa quê hương có thể làm những ngành nghê thủ công để mưu sinh, ở thời hiện đại có thể làm những nghề về khoa học kỹ thuật. Nam mệnh và nữ mệnh, hôn nhân đều bất lợi, nên kết hôn muộn.
Thái Âm hóa Kị ở cung Tị, cũng nên chủ động rời khỏi quê hương để phát triển. Cung Di là Thiên cơ hóa Lộc hội Thiên mã, là cách "Lộc Mã giao trì", nếu xuất ngoại ắt sẽ sáng sủa phát đạt.
Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, an Mệnh tại cung Tị này đều bất lợi đối với người thân phái nữ. Cho nên nam mệnh hôn nhân không tốt đẹp, thường thường phải tái hôn mới sống đến bạc đầu.
Tinh hệ "Thái âm Thiên đồng" đồng độ ở cung Ngọ, mà Thái Âm hóa Kị, cần phải xem xét tình hình của tinh hệ hội hợp mà định. Nếu có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ, sẽ chủ về rời xa quê hương, hoặc chủ về "song trùng phụ mẫu".
Thái Âm hóa thành sao Kị ở bản cung, thường thường bị ảnh hưởng về sự nghiệp, chủ về có biên độ lên xuống thất thường rất lớn, vì vậy nên làm những công việc có tính thiết thực, cũng chủ về có khuynh hướng "đồng tính luyến ái" như Thái Âm hóa Kị ở cung Tý.
"Thái Âm đồng cung với Thái Dương" ở cung Mùi, mà Thái Âm hóa Kị, còn Thái dương cũng bắt đầu ngả về chiều, cho nên bất lợi đối với cha mẹ, bất lợi nhất là người thân phái nữ. Nếu Sát tinh quá nặng, cũng chủ về Mẹ sống cảnh góa bụa.
Người có tinh hệ này thủ Mệnh, bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, thường thường đều có tính bên ngoài thì "cương" mà bên trong thì "nhu", cho nên phần nhiều đều gặp trắc trở về sự nghiệp và tình cảm (ngược lại: ngoại nhu nội cương ?).
"Thái âm Thiên cơ" đồng độ ở cung Thân, mà Thái Âm hóa Kị, cũng có tình hình "cọp mà ăn thức ăn của mèo". Tham khảo thêm ở đoạn thuật "Thiên Cơ hóa Lộc".
Thái Âm hóa Kị ở cung Dậu, nữ mệnh rất bất lợi về tình cảm, thường chủ về làm "nhị phòng" hay "kế thất", nếu không khó có thể sống với nhau đến bạc đầu. Đối với nam mệnh chủ về lang bạt tha hương rồi mới tay trắng làm nên, nhưng vẫn chủ về "danh" lớn hơn "lợi", mức độ thu nhập tăng theo địa vị xã hội, và không thích hợp tự kinh doanh làm ăn. Dễ được phái nữ yêu thích, nên cũng gặp nhiều rắc rối khó xử về tình cảm, do vậy lãng phí rất nhiều thời gian của đời người.
Thái Âm hóa Kị ở cung Tuất, không có ảnh hưởng xấu, Thái Dương ở Thìn đối cung là ánh sáng đang hiển lộ, Thái Âm đối nhau ở xa xa, là cách ưu mỹ. Nên Thái Âm hóa Kị chỉ chủ về thiếu phúc ấm của cha mẹ, nhưng lại biểu trưng cho "tay trắng làm nên".
Thái Âm rất ưa hóa Kị ở cung Hợi, là "biến cảnh". Thái Âm lúc này tỏa sáng, khi Hóa Kị chỉ chủ về đời người phải trải qua một giai đoạn đau khổ, nhờ vào đó mà thành tựu được sự nghiệp.
Nhưng "tam phương tứ chính" có các sao hội hợp phần nhiều có tính "lưu động", cho nên bất kể là nam mệnh hay nữ mệnh, đều chủ về dễ gặp rắc rối khó xử về tình cảm, thường vì có khuynh hướng yêu đương lãng mạn (nên gia đình khó tránh khỏi sứt mẻ hay đổ vỡ).
*.
Trích của tác giả: ĐOÀN MẠNH THẾ 

Các câu phú trong tử vi


1. Tử Vi:
Tử vi mặt đỏ, lưng dầy
Tính tình trung hậu, người dầy phương viên
Mệnh an Ngọ, song tuyền phú quý
Tuổi Giáp, Đinh duy chỉ hai người
Tử vi toạ thủ cửa trời
Nếu vô Sát Tấu, một đời công khanh
Vận suy, hạn nhược chẳng lành
Được sao Tử đóng bên mình giải hung
Tử, Tang, Tả, Hữu hội trung
Có người con gái lộn chống tìm ra.
2. Thiên Cơ:
Sao Thiên Cơ đồng cung Quyền, Kỵ
Tổi Tuất, Thìn, túc trí cơ mưu
Thông minh, biến hoá đủ chiều
Cự, Cơ, Tý, Ngọ mỹ miều lắm thay
Tuổi Đinh, tuổi Quý mới hay
Thạch Trung Ẩn Ngọc, cách này trời ban
Những người tuổi Bính, tuổi Tân
Cự, Cơ, Mão, Dậu thập phần giàu sang
Lâu đài gấm vóc thênh thang
Xum xuê hoa lá, đầy dương bạc tiền
Cự Cơ Tuần Triệt tại Điền
Tư cơ cha mẹ không truyền cho con
Cơ, Lương, Thái Tuế, Tang Môn
Lâm vào chón hãm, cành con chớ trèo
Cự ngộ Hổ, chó đá chầu
Ngộ Dương Đà, có thạch đầu tại gia
Thiên Cơ, Bạch Hổ mà gia
Tang Mông, Điếu Khách, là sa hoàng tuyền.
3. Thái Dương:
Thái Dương chủ Quan lộc tinh
Ngọ cung, Hoả mệnh quang vinh nhất đời
Địch quốc chi phú là người
Tranh quyền chi vị nết thời khó thương
Cư cung Mão Lương, Xương, Lộc hội
Tuổi Tuất, Thìn cách tốt vinh xương
Chính là Nhật xuất phù tang
Giữ ngôi tể tướng quyền sang nhất triều
Dần đến Ngọ là chiều cát vượng
Trí thông minh, hình tướng gọn gàng
Ở ăn tuơm tất đoàng hoàng
Chuộng điều phước thiện, tránh đường vô liêm
Canh niên, Mão vị không hiềm
Tuổi Nhâm, cung Ngọ quý quyền hanh thông
Thái Dương, Hợi địa vất dung
Từ Dầu tới Sửu nghịch dòng chẳng hay
Dương, Đà, Không, Kiếp ăm mày
Mua phiền chuộc não lo ngày lo đêm
Thiết bi hãm sắc, tính hèn
Dương, Đà ngộ Kỵ, mắt phiền kém tươi
Gia nhân sạ khứ, sạ hồi
Bởi sao Nhật Nguyệt hãm ngồi Nô cung
Thiên Tài ngộ Nhật bất trung
Tình tình nhâng nháo, để dưng Phật Thần.
4. Vũ Khúc:
Vũ Khúc là sao Kim hình
Vóc người nho nhỏ, tính tình thanh cao
Chí cương chí nghị, anh hào
Khoan dung đại lượng lược thao gồm tài
Mệnh Sửu, Mùi đồng hai Văn, Vũ
Tuổi thổ phùng Thai, Toạ tam phương
Binh quyền vạn lý nghênh ngang
Anh hùng danh trấn chư bang một nhà
Ai người tuổi Thổ, Kim hoặc Mộc
Gặp Tham Lang, Vũ Khúc đồng liêu
Van mô, vũ lược kiêm ưu
Mộ trung Thai Toạ, cách siêu mọi người
5. Thiên Đồng:
Thiên Đồng Mắt lớn lưng dầy
Vóc người mập mạp, diện đầy phương viên
Tâm cao chí đại nhưng hiền
Không cao ngạo, dẫu bút nghiên thực tài
Đãn hiềm Đà, Kỳ lâm lai
Mắt lươn ti hí, lại hay ngồi đồng
Cùng Kình Dương toạ Ngọ cung
Với sao Phượng, Giải anh hùng một phương
Dần Thân cung, Đồng Lương đắc cách
Giáp, Tân, Canh Thủ bạch thành gia
Thiên Lương, Nguyệt Đức chiếu kề
Một là đạo sĩ, hai là tăng nhân
Với những người tuổi Thân, Thìn, Tý
Cách Đồng Lương Cơ Nguyệt tạo nên
Quan sang, lộc trọng vững bền
Cửa nàh cao rộng, bác tiền đầy kho.
6. Liêm Trinh:
Liêm Trinh hoả vượng thân tràng
Lộ hầu, lộ nhãn, mắt vàng mày thưa
Cư Thân, Mệnh hoá Đào Hoa
Ăn chơi, phóng đãng, xa hoa khác người
Hãm cung đóng tại Sửu, Mùi
Riêng hợp tuổi Bính thành người giầu sang
Cùng Tướng, Lộc hội tam phương
Quyền cao, lộc trọng, phong quan mọi đàng
Dần Thân với Khúc, Xương đồng củng
Văn đã hay, võ cũng đồng tài
Anh hùng cái thế trong đời
Liêm Tham Tỵ Hợi, gặp thời huyền tu
7. Thái Âm:
Mệnh Thân có Thái Âm toạ chủ
Hợi cung, người mệnh Thuỷ, Mộc, Kim
Các là Nguyệt Lãng Thiên Môn
Tư cơ đồ sộ, quyền môn chói loà
Âm hội Lộc, Quyền, Khoa cư Tý
Tuổi Quý, Nhâm, phú hiểm trăm phần
Thiên Lương, Nguyệt diệu, dâm bần
Ngộ Dương, Đà phải thương thân, tán tài
Hội Tả, Hữu, Lộc Tồn, Vũ Khúc
Cách riêng cho những bặc phú ông
Thái Âm ngộ Kỵ, Hình đồng
Mắt mờ, có tật, bằng không mù loà
8. Tham Lang:
Tham Lang biến khả thành Đào
Mệnh Tham Sinh Vượng ssống lâu hơn người
Tham Linh Hoả an bài Tứ Mộ
Ngôi công hầu triệu phú gia tư
Tham Lang ác sát đồng cư
Cẩu thân thử thiết nghề tư chính nòi
Tham với Tả, Hữu, Khôi, Việt hội
Mộc sinh nhân thầy bói lừng danh
Tham Lang, Vũ Khúc đồng hành
Mệnh cư Mùi, Sửu tất thành phú thương
Tham nhàn, hội Văn Xương, Văn Khúc
Chính thực chàng đại dóc ba hoa
Cư Hợi, Tý, ngộ Dương Đà
Cuộc đời phiếm thuỷ đào hoa bồng bềnh
Hai tù tinh Tham, Liêm Tỵ, Hợi
Ngộ Triệt, Tuần phản hữu kỳ công
Tham Hoả miếu, cách phú ông
Tham Linh tịnh thủ Tướng hùng vang danh.
9. Cự Môn:
Thân Mệnh, Cự Môn, Tý, Ngọ chuẩn
Phùng Triệt Tuần Ngọc ẩn thạch trung
Cách này phú quý vô song
Cự phùng Quyền, Lộc cũng đồng vinh xương
Cự, Đà, Tấu, Tuế một đoàn
Tháng ngày chầu chực công môn miệt mài
Cự Môn, Thìn, Tuất hai nơi
Đầu đình, góc chợ những người ngụ cư
Duy tuổi Tân phản vi phú quý
Vì Cự Môn phương vị Tốn, Tân
Sao Cự Nhật cung Dần, Thân
Ngộ Quyền, ngộ Phượng phong vân gặp thì
Ngành Tư Pháp luật sư cãi giỏi
Mệnh Cự Môn hội với Tuế, Hình
Ai người miệng kín như bình
Thái Tuế, Việt, Kỵ song hành Cự Môn.
10. Thiên Tướng:
Tướng Ấn chính vị Công Hầu
Binh, Hình, Lộc, Mã hội chầu Mệnh Viên
Cung Thìn, Tuất, Mệnh an Tướng thủ
Quan Lộc cung vượng khí công danh
Thiên Tướng chẳng kỵ Sát tinh
Chỉ hiềm Tuần, Triệt đầu mình phân hai
Thiên Tướng là mặt con người
Hương trời sắc nước mệnh ai Tướng, Hồng
Đãn hiềm lấn át quyền chồng
Tướng, Phục, Hình, Kỵ bóng đồng tốn hao
Tướng và Khúc hội Đào, Mộc, Cái
Sắc khuynh thành, chết nỗi dâm bôn.
11. Thiên Lương:
Thiên Lương mộc chủ Thọ tinh
Đóng cung Thân, Tuất, Thìn, Dần mới hay
Nữ lưu thủ mệnh phúc dầy
Hao, Hình, Kiếp, Sát một bầy tai ương
Mệnh cung Ngọ thượng Thiên Lương
Tuổi Đinh, Kỷ, Quý quyền sang nhất triều
Hội Thất Sát, Song Hao tại Tỵ
Phải đề phòng hiểm hoạ đao thương
Ngộ Trì soi bóng đài gương
Vị công hầu, hội Văn Xương một nhà
Tuổi hoa nở, đăng khoa cao chiếm
Bởi Thiên Lương thủ mệnh Tý cung
Xương Lộc hộ Nhật chiếu xung
Đè đầu sĩ tử, văn hùng nhất danh.
12. Thất sát:
Thất Sát thuộc Kim ưng đới Hoả
Đóng Dần, Thân miếu địa an bài
Giáp, Canh, Đinh, Kỷ bốn người
Danh cao, lộc trọng một đời vinh xương
Sát, Xương, Khúc tứ phương cùng phục
Tổi Mão, Thân thọ phúc song toàn
Tốn cung Sát, Tử đồng ban
Đề Huề Bảo Kiếm võ quyền kinh uy
Ai người Lộ thượng mai thi
Vì sao Liêm, Sát đồng cung Sửu Mùi
Ai người trận địa thây vùi
Vì sao Kình, Sát đứng ngồi Ngọ cung
Sát tuyệt địa Đà, Dương xung chiếu
Thầy Nhan Hồi yểu chết than ôi
Nữ mệnh Sát, Ngọ, Tý ngồi
Ngộ Riêu, Kiếp phải lệ rơi vì tình.
13. Phá Quân:
Phá Quân thuộc Thuỷ, Hao tinh
Hào hùng, phúc hậu gian manh tuyệt vời
Tuổi Canh, Quý Phá ngồi Ngọ, Tý
An Mệnh viên Miếu vị anh tinh
Anh hùng cái thế, tranh vanh
Cùng Vũ, Tỵ Hợi đóng thành tây tan
Phải chờ tới vãn niên mới khá
Đồng Khốc Hư Tịch thủ xưng hùng
Giang sơng một kiếm vẫy vùng
Miệng cười rộn rã nhưng lòng vẫn nghi
Đã táo bạo, còn ưa lịnh bốc
Phá, Tham cùng Mã, Lộc dâm lang
Hoả, Hao ngộ Phá tai ương
Phá Quân, Linh Hoả muôn phương dãi dầu
Kình đồng Phá lại chiều Phụ Bật
Mão Dậu cung là đất nghịch thường
Hoàng Sào lâm loạn trào cương
Nhân dân đồ thám, thực phường bất nhân
Trai bất nhân, Phá Quân Thìn Tuất
Ngộ Khoa, Tuần phản ác vi lương
Tuổi Mậu, Quý lắm bạc vàng
Hoạnh tài bộc phát giàu sang một đời.
(Bản của tôi thiếu sao Thiên Phủ, bạn nào có post lên cho diễn đàn)
_____________________________
CÁC SAO PHỤ TINH
1. Văn Xương:
Sao Xương, Khúc chủ văn chương
Đồn lâm Thìn, Tuất chi hương tuyệt vời
Miên nhi bất tú Nhan Hồi
Văn Xương ngộ Kỵ một đời tài hoa.
2. Văn Khúc:
Văn Khúc chủ văn chương thuộc thuỷ
Mệnh, Thân lâm nhị mộ Tuất Thìn
Phùng Khoa, Tuế với Hoá Quyền
Văn chương hùng biện hoàn toàn giỏi giang
Ví cùng Vũ Khúc đồng hương
Tướng kiêm văn võ, vinh quang một đời.
3. Tả Phụ:
Tả Phụ là sao phù trì
Tả, Hữu thủ Mệnh, là đi phương ngoài
Gặp Tả, Hữu, Thân thủ đúng cách
Ngôi công hầu hiển hách một đời
Mộ cung Tả, Hữu đồng lai
Thăng quan tiến chức một đời hiển vinh.
4. Hữu Bật:
Phụ, Bật ngộ Thái Âm nhàn
Chuyên làm bà đỡ, gúp đàn sơ sinh
Phụ Bật, Khúc, Tướng đồng viên
Thầy lang, Bác sĩ danh truyền lương y.
5. Thiên Khôi - Thiên Việt:
Khôi, Lương Thanh, Việt, Cái, Hồng
Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
Hồng, Khôi, Xương, Tấu đề huề
Sân rồng, bảng hổ danh đề một hai
Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Việt, Khôi
Công thành danh toại, một đời hiển vinh.
6. Thiên Mã:
Mệnh cung trung đóng sao Thiên Mã
Tại Dần cung gọi mã Trạng Nguyên
Tể tướng Mã, Thân cung an
Ô Truy Ngự Sử, Hợi nhàn Mã lâm
Phù thi Mã, Hình xâm Mã vị
Xích thố Mã, cung Tỵ Mã ngồi
Mã, Đà triết túc què rồi
Giao trì Lộc, Mã tiền tài đầy kho.
7. Lộc Tồn:
Mệnh có Lộc Tồn, Phá, Không
Cát biện phản biến vi hung tức thời
Uyên ương Lộc hội tốt vời
Công danh hiển hách một đời giầu sang
Song Lộc thủ Mệnh quyền chuyên
Lộc đảo, Mã đảo hết phiền lại lo.
8. Kinh Dương:
Kình Dương Thìn Tuất Sửu Mùi
Tam phương cát chiếu một đời giầu sang
Mệnh viên Ngọ, toạ Kình Dương
Mã đầu đới kiếm biên cương trị vì.
9. Đà La:
Đà La bản tính chẳng lành
Dần, Thân, Tỵ, Hợi đồng hành vượng cung
Đà La hãm địa tối hung
Cuộc đời cơ cực,k hình bồng độ thân.
10. Hoả Tinh:
Hoả Tinh lửa đốt tứ bề
Tỵ, Ngọ, Dần, Mão đề huề vượng cung
Hoả cư Hợi, ngộ Tuyệt đồng
Tham, Hình cũng hội, lẫy lừng uy danh
Hoả Tinh Điền Trạch độc hành
Của nhà tiền bạc tan tành ra tro.
11. Linh Tinh:
Linh tinh là điện lửa trời
Tý, Ngọ, miếu đại, hãm thời Dậu, Thân
Linh Tinh, Thiên Việt ở gần
Gió mưa sấm sét phải cần tránh xa
Kẻo mà sét đánh oan gia.
12. Hoá Lộc:
Hoá Lộc thủ Mệnh cung
Tý, Ngọ, Mão, Dậu là vùng tốt tươi
Lộc Tồn, Hoá lộc sánh vai
Chẳng bằng củng chiếu, đông Đoài song phương.
13. Hoá Quyền:
Hoá Quyền chủ thế anh hùng
Dần, Mão,Tý, Hợi là cung miếu đường
Quyền hội Thất Sát, Cự Môn
Công danh hiển hách, quyền tôn nhất Triều.
14. Hoá Khoa:
Hoá Khoa chủ văn chương thi cử
Hợi, Dần, Thân, Tỵ thủ Mệnh cung
Công danh khoa bảng hanh thông
Khoa tinh vị tướng giải hung tuyệt vời.
15. Hoá Kỵ:
Hoá Kỵ sao chính Kế Đô
Âm trầm, cơ sảo mưu đồ cạnh tranh
Hoá Kỵ hội với Quyền tinh
Đường mây nhờ ở cơ mưu tuyệt vời
Hợi, Tý, Dần, Mão, Dậu, Thân
Sáu cung vượng đại Kỵ tinh an bài.
16. Thiên Không:
Hạng Võ anh hùng ngộ Thiên Không táng quốc
Thạch Sùng hào phú, phùng Địa Kiếp vong gia
Thiên Không hội với Đào Hoa
Cầm kỳ, thi hoạ tài ba tuyệt vời
Cơ mưu quyền biến hơn người
Ngàn năm bạc mệnh là đời tài hoa.
17. Địa Kiếp:
Địa Kiếp là tốt hung thần
Đóng đâu hại đó, là phần hiểm nguy
Hai cung Tỵ, Hợi miếu vì
Hoạnh phát, hoạnh phá tựa thì sấm ran.
18. Thiên Hình:
Cung Dậu có Tuế ngộ Hình
Tai sinh, hoạ chí mà mình chẳng hay
Thiên Hình, Dương nhận cả hai
Hội cùng Kiếp Sát nay mai vào tù
Đến già chẳng có con thơ
Bởi Hình Sát, Hổ ngồi toà Tử cung
Hình lâm Quan lộc, Cự Đồng
Võ nghiệp tiến phát, đền rồng chầu vua.
19. Thiên Riêu:
Thiên Riêu phóng đáng ngao du
Quái tinh khi tỏ, khi mờ dâm phong
Hình Riêu phận gái long đong
Ví chẳng lộn chồng, ắt cũng phản phu
Thiên Riêu, Long, Phượng một nhà
Thiên hương quốc sắc, nõn nà giai nhân.
20. Thiên Khốc-Thiên Hư:
Khốc, Hư Tý, Ngọ cung Mệnh thủ
Hội Mã, Hình nghiệp võ hiển dương
Khốc, Hư hội với Kình Dương
Hữu sinh vô dưỡng, ngộ Tang mất người
Hậu thành, tiên trở trong đời
Bởi sao Hư, Khốc cùng ngồi Mệnh viên.
21. Hồng Loan:
Sao Hồng Loan hội cung Tử, Phủ
Gái chính chuyên, thục nữ ngàn xưa
Hồng Long ngộ Kỵ cung Phu
Gái ngồi quạt mồ, lòng dạ xốn xao
Hồng Cơ, Tấu, Vũ, Hỷ, Đào
Câu ca, điệu vũ nghề nào cũng tinh.
22. Thiên Hỷ:
Sao Thiên Hỷ, chủ mừng vui
Thiên Hỷ thủ mệnh, mệng cười có duyên
Hỷ Thần, Thiên Hỷ, Hồng Loan
Ba sao đem lại hân hoan trong đời.
23. Tham Thai - Bat Toạ:
Giáp Bát Tạo, giáp Tam Thai
Thiếu niên sớm dự lâu đài nghêng ngang
Hoả, Linh, Kình, Tấu đồng ban
Tung hoành bút phượng trong làng văn nhân
Bút hoa vùng vẫy phòng văn
Tài riêng thiên phú người, Tân, Tốn, Đoài
Cần Hợi ngoạ bút vẽ vời
Mão, Dậu bùa ấn, bút người Pháp sư.
24. Long Trì-Phượng Các:
Long Trì, Phượng Các hai sao
Cung Mùi, cung Sửu đóng vào vượng thay
Riêu, Hỷ, Khốc rồng bay gặp hội
Chốn thi đình danh vọi vọi cao
Cái cùng Long, Phượng, Hồng, Đào
Chủ quyền nội tướng, anh hào hàng hai
Phượng Long giáp Mệnh có tài
Trước sau vinh hiển ra ngoài lợi danh.
25. Ân Quang-Thiên Quý:
Mệnh Thiên Quý chẳng phùng Không sứ
Hội Khoa, Xương sĩ tử nể vì
Thông minh tài học ai bì
Lọng vàng, ngựa tía cờ khoe rợp trời.
26. Cô Thần:
Cô Thần, Quả Tú hai sao
Thiết thân chẳng có bạn nào với ai
Tử Tức mà ngộ cả hai
Gian truân vất vả về hài nhi sinh.
27. Quả Tú:
Quả Tú mà ngộ Thiên Hình
Tuổi già đầu bạc một mình không con
Chữ rằng: "Hoạ phúc vô môn"
Tam phương cát chiếu có con muộn màng.
28. Phi Liêm:
Phi Liêm ngộ Hoả, Linh, Hình, Việt
Thành đạn tên bắn giết hại thay
Phi Liêm hội Mã, hổ bay
Công thành danh toại, rồng mây gặp thời.
29. Thai Phụ-Phong Cáo:
Thai Phụ, Phong Cáo Khoa tinh ngộ
Bước công danh mở rộng đường mây
Cát tinh hội với Cáo, Thai
Công danh thẳng tiến lâu đài nghênh ngang.
30. Hoa Cái:
Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng
Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
Hoá Quyền, Hoa Cái hội về
Cùng Hổ, Long, Phượng quyền uy hơn đời.
31. Đại Hao- Tiểu Hao:
Song Hao thuộc thuỷ đại hà
Mão, Dậu thủ mệnh, chính là miếu cung
Cách là: "Chúng Thuỷ Triều Đông"
Phát tài, phát lộc vào không bến bờ
Tham Lang ngộ Hao một nhà
Cầm vàng nhịn đói, lệ hoà miếng ăn.
32. Thiên Đức:
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng
Trai lấy vợ đẹp gái chồng giầu sang
Thiên Nguyệt Đức tạo chiếu phương
Cùng là quan phúc trừ hung cứu người.
33. Thanh Long:
Thanh Long Mệnh, Phúc, Thân toạ thủ
Tại Thìn cung, mệnh Thổ Âm Nam
Hoạ Kỵ chiếu hợp tam phương
Tuổi Đinh, tuổi Kỷ toại đường công danh.

Một phút sau khi chết !


Bao nhiêu năm rồi làm gì và được gì?
Rồi đến lúc nhắm mắt xuôi tay liệu còn ai thực sự yêu thương bạn , vẫn dòng nước mắt nhưng thực tâm liệu rằng trái tim đó có phải dành cho bạn?
Trong cuộc sống cũng vậy đôi lúc hãy tự vấn lương tâm và con người mình , hãy sống sao cho đúng, sống sao cho tốt, dẫu biết xã hội này , cuộc sống này khó để cho người ta được như ý.
Tử vi cũng vậy mục đích cuối cùng cũng chỉ khuyên răn con người sống đúng với đạo trời.
Nên hay không nên , bạn hãy là người quyết định !
Vì mọi việc sẽ có nhân quả của nó.


Luận bàn về sao Thiên Không



Cái lý của Thiên Không mà chúng ta biết ngày hôm nay rất có thể là một phát triển độc lập sau này của Việt phái. Nếu thế thì đây là một phát kiến mà chúng ta rất nên hãnh diện vì nó bao hàm một triết lý hết sức thâm sâu.

Hiểu thêm về sao Hoá Lộc trong tử vi


HOÁ LỘC 

Thuộc tính ngũ hành của sao Hóa Lộc là âm thổ, hóa khí là Tài lộc, chưởng quản phúc đức chủ về tài lộc, thọ, lại chủ về duyên phận. Hóa Lộc còn dẫn thân làm sức lưu thông, hiển lộ là tiền tài, khiến cho tài phú được cụ thể hóa.

Các sao chủ tài tinh Vũ khúc, Thái âm, Lộc tồn, Thiên phủ, cùng các sao thứ tài tinh Liêm trinh, Thiên tướng, Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Cô Thần (không gặp Hóa Kị, đối với tiền tài chỉ có lợi mà không có hại), nếu gặp sao Hóa Lộc, nguồn tiền của sẽ dồi dào bất tận, dễ đắc tài. Nếu thứ tài tinh gặp sao Hóa Kị (đồng cung hoặc tại xung cung) chủ về một đời tiền của lúc có lúc không, được mất bất thường, quan hệ không tốt, phiền não vất vả, cần phải xem xét trạng thái cát hung của các sao đồng cung hoặc tại tam phương tứ chính, thì mới có thể đoán định việc đắc tài có được thuận lợi hay không. Tài tinh Hóa Lộc không gặp Hóa Kị, Địa không, Địa kiếp, lại nhập các cung Mệnh, Thân, Tài, Quan, Điền, thì nguồn tài cực thịnh. Tài tinh Hóa Lộc nhập các cung Tử nữ, Phụ mẫu, Tật ách, Nô bộc, Huynh đệ, thì chủ về chỉ có biết hưởng thụ lại thường dễ mang tính đào hoa.

Sao Hóa Lộc nhập miếu tại Dần Thân, đắc tại Tị Hợi, không đắc tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lạc hãm tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Sao Hóa Lộc kị nhất là tứ Mộ, tuy hóa cát cũng không có mấy tác dụng, nhưng 4 cung Mộ cũng là 4 kho của, nên tiền tài có được sẽ có nơi cất trữ. Sao Hóa Lộc rơi vào hãm địa Tý Ngọ Mão Dậu, cho dù đóng tại cung Mệnh, Tài, Quan, Điền, thì cũng không thể phất được. Sao Hóa Lộc kị nhất là bị Địa không, Địa kiếp, Hóa Kị xung phá, sẽ trở thành điềm hung, khiến cho thu không đủ chi, mất nhiều hơn được.

Sao Hóa Lộc nếu trấn các cung Mệnh, Thân, Quan tại 4 cung Mã Dần, Thân, Tị, Hợi, lại gặp hai sao Hóa là Hóa Khoa và Hóa Quyền (nếu 3 sao Hóa cùng nằm tại cung mệnh, thì sức mạnh sẽ kém hơn khi nằm tại cung vị tam hội và chiếu, nhưng hành vận thủa nhỏ sẽ thuận lợi hơn), nếu không bị sát tinh xung phá, thì vận làm quan rất tốt.


Hóa Lộc – Tam Hợp phái


Hóa Lộc thuộc âm thổ, cai quản tài lộc. Cho nên ưa có Lộc Tồn tương hội, gọi là “Lộc trùng điệp”; lai ưa gặp “Lộc tồn Thiên mã” gọi là cách “Lộc Mã giao trì”.

Hóa Lộc không ưa đến 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu, nhất là cung Mão, rất ưa đến các cung Dần, Thân, Hợi, cũng ưa cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lộc Tồn không đến các cung Tứ mộ, nên ưa Hóa Lộc bổ túc, cần phải có sao Lộc xung khởi mới phát huy được.

Ý nghĩa của Hóa Lộc, thông thường là chỉ “nguồn tiền tài”, tức là tính chất và năng lực kiếm tiền, cũng chỉ “cơ hội kiếm tiền”.

Trong các tình hình thông thường, không ưa Địa không, Địa kiếp cùng bay đến (bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu). Cổ nhân nói “Lộc mà đến cung nhược thì phát mà không chủ về tài”, tức là chỉ được hư danh mà không có lợi lộc thực tế.

Hóa Lộc rất ngại gặp Hóa Kị xung phá, cổ nhân nói: “Lộc gặp xung phá, là trong cái tốt có chứa điềm hung”. Trong các tình hình thông thường, chủ về tình hình vì kiếm tiền mà sinh tai họa. Ví dụ như vì cầu tài mà xảy ra bất chắc, đầu tư lớn mà không có thu hoạch, dẫn đến không còn vốn để tiếp tục đầu tư. Những trường hợp này, cần phải xem tổ hợp Sao thực tế mà định tính chất.

Hóa Lộc tượng hội với Hóa Quyền Hóa Khoa, thông thường là kết cấu rất tốt, được gọi là “Tam kỳ gia hội cách”, nhưng vẫn cần xem xét tính chất của các Sao bay đến để định nặng nhẹ.

Như cung mệnh “Liêm trinh Thiên tướng”, mà Liêm trinh hóa Lộc, có Phá quân hóa Quyền vây chiếu, hội hợp với Vũ khúc hóa Khoa ở cung Sự nghiệp. rõ rằng là lấy Liêm trinh hóa Lộc làm chủ. Bởi vì “Liêm trinh Thiên tướng” chủ về làm việc trong chính giới, hoặc trong công ty có tính phục vụ, bản chất của cung mệnh này, Phá quân hóa Quyền chỉ làm tăng quyền bính về kinh tế, Hóa Quyền Hóa Khoa chỉ trợ giúp cho tình hình cát lợi của cung mệnh, không thể tính là chủ thể.

Hoá Khoa đứng đầu trong tam hoá!

HOÁ KHOA


Thuộc tính ngũ hành của Hóa Khoa là dương thủy, hóa khí là thanh danh, chưởng quản văn chương, chủ về thanh danh. Sao Hóa Khoa dẫn thân là tâm tính vui vẻ, hiển lộ là nổi tiếng, tức cụ thể hóa thanh danh, khả năng học tập và thi cử.

Sao Hóa Khoa nếu đóng tại cung Thân cung Mệnh, chủ về thông minh mẫn tiệp, tài hoa khác thường, tính tình hòa nhã dễ gần, có thanh danh. Nếu gặp sao Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ là người hiển quý có địa vị cao. Nếu gặp hung tinh, tuy khong được hiển quý, nhưng cũng có tài năng văn học. Nếu là Văn Xương hóa Khoa sẽ trở thành bậc thầy mẫu mực.

Tương tự như sao Hóa Lộc, sao Hóa Khoa không có khả năng đề kháng trước sao Hóa Kị, nếu như không được cát tinh trợ giúp, thì chủ về vất vả gian lao mà không có thành tựu. Nếu được cát tinh trợ giúp mới có được thành tựu, nhưng vẫn khó tránh khỏi gian nan lao lực. Sao Hóa Khoa cũng kị gặp phải các sao Không vong như Tiệt không, Tuần không, Địa không, Địa kiếp, chủ về có tài năng mà không gặp cơ hội, lại thường rơi vào tình cảnh cô đơn khổ cực không nơi nương tựa.

Khi Văn xương, Văn Khúc gặp Hóa Khoa, lại thêm Thiên khôi, Thiên việt, sẽ có lợi về đường thi cử, thăng quan tiến chức thuận lợi mà trở thành hiển quý.

Sao Hóa Khoa tốt nhất nằm cùng với các sao Thất sát, Phá quân, Tham lang, Tử vi, Thiên cơ, Cự môn, Thiên đồng, Thái âm, Vũ khúc, chủ về sáng nghiệp, nhưng mệnh nữ cần đề phòng ảnh hưởng đến hôn nhân.

Sao Hóa Khoa nhập miếu tại Sửu địa (không sợ hung sát), vượng tại Ngọ địa, Thân địa (không sợ hung sát), đắc địa tại Thìn, Tuất, Mão (là phúc, kị hung sát), được lợi tại Dần, Tị, Mùi (phúc đến chậm, kị hung sát), bình thường tại Hợi, Tý, không đắc tại Dậu địa. Nếu nằm cùng cung hãm với Tiệt không, Tuần không, Địa kiếp, Địa không, Kình dương, Đà la, Thái dương, Thái âm là lạc hãm.


Hóa Khoa – Vương Đình Chi


Hóa Khoa thuộc dương thủy, chủ về “trí”, “lưu truyền”, nên là “tiếng tăm, danh dự”.

Các sách Đẩu Số thông thường cho rằng Hóa Khoa không nên gặp Hóa Kị. Ở thời cổ đại, hóa Khoa chủ về khoa cử công danh, sĩ tử cần phải xuất thân từ khoa cử thì mới dễ hiển đạt, cho nên không ưa Hóa Kị xung hội Hóa Khoa.

Ở thời hiện đại, không còn chuyên về khoa cử mới công danh hiển quý, cho nên lúc hóa Khoa và hóa Kị xung hội, thường thường chủ về nổi tiếng mà chuốc đố kị, có lúc lại chủ về nhiều người biết tiếng. Vương Đình Chi kể, ông từng đoán mệnh cho một vị luật sư, Cự môn hóa Kị ở cung mệnh, bị Thiên cơ hóa Khoa xung hội, vị luật sư nổi tiếng do tài ăn nói và cơ trí ứng biến lúc biện hộ cho thân chủ.

Nhưng thông thường, Khoa Kị tương xung dễ bị nói xấu, chê bai, dị nghị, phỉ báng, cần phải xem bản chất các sao mà định tốt hay xấu. Nếu Thái dương của cung mệnh nguyên cục Hóa Khoa, lại nhập miếu, chủ về người này ắt sẽ có danh tiếng lớn, đến Đại hạn hoặc Lưu niên không thích gặp Thái dương hóa Kị, chủ về vì có danh tiếng lớn mà chuốc điều tiếng thị phi.

Nếu gặp Thiên đồng hóa Kị, thì vì tiếng tăm mà hay gặp phiền phức và bận rộn, nên ít hưởng thụ, dễ sinh bệnh mà thôi.

Phái Trung châu có một bí truyền về Hóa Khoa, như sau:

Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh ban ngày, đến cung hạn Thái dương nhập miếu được cát hóa, bất kể là Lưu niên hay Đại hạn, đều chủ về có thanh danh lớn. Nếu đến cung hạn có Thái dương lạc hãm, lại gặp các sao Sát Kị, thì thanh danh bị tổn thương. Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh vào ban đêm, đến cung hạn Thái âm nhập miếu được cát hóa, cũng chủ về có danh tiếng lớn. Nếu đến cung hạn có Thái âm lạc hãm, mà gặp các sao Sát Kị, thì chủ về thanh danh bị tổn thương.

Thông thường, hai trường hợp trên, có thể xem các sao hội hợp thực tế mà định chi tiết.

Hóa Khoa thủ cung mệnh, ở cung độ lục hợp, gặp Hóa Lộc (ví dụ như hóa Khoa ở cung Tý, hóa Lộc ở cung Sửu), gọi là “Khoa minh Lộc ám”, chủ về nhờ khoa cử công danh, có tiếng tăm mà được quan lộc, hoặc được nâng cao địa vị xã hội. Đây là nhờ danh mà đắc lợi. (có thể so sánh với cách “minh lộc ám lộc”, Lộc tồn và hóa Lộc ở cung lục hợp, cũng chủ về quý hiển, đây là nhờ phú mà được quý, khác với cách “khoa minh lộc ám” là nhờ danh mà được quý).

Hóa Khoa không ưa đồng cung với Địa không Địa kiếp, chủ về khuynh gia bại sản, chỉ có hư danh, hoặc có danh vọng trong phạm vi cực nhỏ, cũng chủ về nghiên cứu triết học tôn giáo.

Hóa Khoa đồng độ với Lộc tồn, mà rơi vào cung có Địa không, Địa kiếp, nhất định sẽ bị Kình dương và Đà la giáp cung, vì vậy tuy tốt nhưng không có danh vọng. Đây gọi là “mạ không trổ bông, sao Khoa hãm ở cung hung”. Cho nên, các sao hóa thành sao Khoa, mà danh vọng chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ là do nguyên cớ này, lúc luận đoán phải chú ý.
Tử vi thiên lương - Sưu tầm